



Mới đi chơi về có mấy cái bông gởi Quế chưng tết.
Nơi trao đổi thông tin của các bạn là cựu học sinh,từng học tại trường Văn hóa quân đội Nguyễn Văn Trỗi. Trang tin này dùng cho các thông tin chính thức về việc hoạt động của trường, các khoá, và có thể các cá nhân. Nội dung nghiêm túc. Mọi người có thể đọc và nhận xét vào bài có trên blog, bằng cách nhấp chuột vào chữ "nhận xét" ở phía dưới mỗi bài viết.
Ngày 15-4-1946, theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, trường Cán bộ Việt Nam mà tiền thân là Quân chính kháng Nhật được đổi thành Võ bị Trần Quốc Tuấn, thực hiện đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng. Do yêu cầu, Người đã bổ nhiệm đ/c Hoàng Đạo Thuý, một nhà giáo yêu nước, nguyên Trưởng phòng thông tin (Bộ Tổng Tham mưu) làm Hiệu trưởng.
Sinh năm 1900 trong một gia đình nho học, khi lớn lên Hoàng Đạo Thúy đã chọn cho mình nghề sư phạm. Xách chiếc va-ly với vài bộ quần áo và chục quyển sách, ông đi dậy học khắp nơi. Khi thì lên rừng, lúc lại xuống biển, đến đâu ông cũng tìm hiểu nhân tình thế thái, tìm hiểu lịch sử dân tộc. Năm 1929, học tập phương pháp rèn luyện của thanh niên phương Tây, ông đã cùng những người bạn đồng chí hướng thành lập “Hội hướng đạo Việt
Năm 1943, các đ/c Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh đã cố gắng tiếp cận ông, nhưng không thành do mật thám Pháp theo dõi ráo riết. Sau này, đ/c Vũ Quý đã tiếp xúc được với ông, hướng phong trào đi theo đường lối của Việt Minh. Tháng 6-1945, chính phủ Trần Trọng Kim định mời ông làm Bộ trưởng Thanh niên, ông từ chối. Trong những ngày sôi sục của Cách mạng Tháng Tám, ông được mời lên Tân Trào dự Quốc dân đại hội. Tại đây, ông đã được gặp Hồ Chủ tịch và các đ/c Trường Chinh, Phạm Văn Đồng… cùng những nhân sĩ, trí thức tiêu biểu. Gắn đời mình với Cách mạng, với trách nhiệm của người trí thức, với kinh nghiệm hoạt động hướng đạo và uy tín của Tổng ủy viên, ông đã vận động đông đảo anh em hướng đạo sinh, tráng sinh và đồng nghiệp tham gia Việt Minh, củng cố chính quyền non trẻ ở các cấp. Sau 2-9-1945, đ/c Võ Nguyên Giáp đã giao cho ông nhiệm vụ tổ chức thông tin liên lạc cho cả nước và ông đã trở thành người lãnh đạo đầu tiên của binh chủng Thông tin.
Khi nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng trường Võ bị, Hoàng Đạo Thúy đã đưa cả vợ con lên phục vụ nhà trường. Ngày khai giảng, 25-6-1946, Cụ Hồ cùng các đại biểu đã trực tiếp đi thăm nơi ăn, chốn ở của bộ đội. Tới bếp ăn, thấy anh em ăn thừa cơm, Cụ Hồ đã phê bình là lãng phí của nhân dân. Tiếp thu ý kiến của Người, ngay hôm sau, bà Thúy đã có sáng kiến lấy cơm sạch còn thừa chế biến làm tương ăn cho bộ đội. Với trình độ sư phạm và kiến thức lịch sử cùng kinh nghiệm tổ chức hướng đạo, Hiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đã cùng Chính trị ủy viên Trần Tử Bình và các đ/c Vương Thừa Vũ, Vũ Lập, các cán bộ, giáo viên kết thúc đào tạo khóa huấn luyện dài hạn đầu tiên một cách xuất sắc. Ngày 8-12-1946, gần 300 học viên ra trường đã bổ sung ngay cho các đơn vị, hưởng ứng lời kêu gọi “toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch.
Đến khóa 3, ông lại được chỉ định làm Hiệu trưởng, còn đ/c Lê Đình làm Chính trị viên. Trong khóa học này, tất cả cán bộ, học viên đều không quên được kỷ niệm – thầy Hoàng Đạo Thuý được kết nạp vào Đảng. Đó là ngày 1-5-1947, lễ kết nạp được tổ chức tại cơ quan Tỉnh ủy Bắc Cạn, ngay trong rừng. Đ/c Hoàng Văn Thái, đại diện cho Đảng ủy quân sự Trung ương, đã về dự; 2 đ/c Nguyễn Văn Bồng và Triệu Huy Hùng được phân công giúp đỡ đảng viên dự bị. Đặc biệt hơn, trong số học viên khóa 2 và 3 ngày ấy có cả đ/c Hoàng Đạo Hùng là con trai của ông.
Để thống nhất trong công tác đào tạo, khóa 2 sau khi kết thúc ở Khu Bốn đã hành quân ra Bắc Cạn hợp nhất cùng khóa 3 vào ngày 10-9-1947. Khi sắp kết thúc huấn luyện thì giặc Pháp nhẩy dù xuống thị xã Bắc Cạn, gần khu vực đóng quân của trường. Ngày 9-10-1947, nhà trường được biên chế thành trung đoàn E79 do thầy Thúy là trung đoàn trưởng. Trung đoàn đã tổ chức đánh thắng 2 trận Đầm Hồng và Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch tại Bản Thi. Và trong lễ bế giảng tại đình Nghĩa Tá, ngày 28-10-1947, do thành tích học tập và chiến đấu, thầy trò Võ bị khóa 2 và 3 đã vinh dự được Bác Hồ tặng cho 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.
Năm 1966, cụ nghỉ hưu và về với căn nhà nhỏ của tổ tiên để lại ở làng Đại Yên (Hà Nội). Với tình yêu quê hương đất nước, với kinh nghiệm của những ngày tháng rong ruổi dậy học và tham gia cách mạng, với trình độ uyên thâm về lịch sử, cụ đã tranh thủ viết sách. Cụ đã để lại cho đời nhiều cuốn sách quý như “Trai nước Nam làm gì” (1943), “Nghề thầy” (1944), “Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội” (1960), “Phố phường Hà Nội xưa” (1974), “Đất nước ta” (1989)…vv.
Hàng năm, cứ ngày mồng 3 Tết, các cựu cán bộ, học viên Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1,2,3 và anh em hướng đạo sinh cùng bạn bè cũ đã đến chúc Tết thầy. Đầu Xuân 1993, đ/c Đỗ Mười và đ/c Lê Quang Đạo đã đến mừng thọ cụ 93 tuổi. Đúng như những gì về cuộc đời mà cụ đã tổng kết “dậy học 28 năm, làm hướng đạo 15 năm, vào bộ đội 20 năm, cả đời yêu nước, làm việc gì cũng vì nước” và thầy luôn tâm đắc “quãng đời trong quân đội là quãng đời hạnh phúc nhất”. Khi thấy mình đã yếu lắm, cụ yêu cầu đ/c Phan Phác (nguyên cán bộ Tổng đội học viên khóa 2 và 3) treo lên phía cuối giường 2 lá cờ “Trung với nước, Hiếu với dân” của Võ bị khóa 1 và “Trung dũng, Quyết thắng” của Võ bị khóa 2 và 3 để cụ được nhìn lần cuối, để nhớ đến Hồ Chủ tịch kính yêu và những đồng đội thân thiết của mình. Sau ngày cụ mất, lục dưới gối đầu giường, gia đình tìm thấy một tờ giấy đã thấm mồ hôi, ngả mầu vàng có ghi lại bài thơ “Ngủ quên” cụ làm trước đó 1 năm:
Gió thoảng, trăng trong, buổi mát trời/ “Ngủ quên, không dậy” việc thường thôi!/ Các con chớ giận không từ biệt/ Cháu nhớ ông bà ngày tháng trôi/ Cái chính chỉ là một lời dặn:/ “Giữ lòng trung hậu ở trên đời”/ Nhớ thương ghi tạc tình cao cả/ Tổ quốc bền lâu với đất trời! - Xuân 1994
Và có một điều không phải ai cũng biết, cụ chính là bố vợ của giáo sư Tạ Quang Bửu, cố Bộ trưởng Bộ Đại học của chúng ta và bà Oanh – vợ giáo sư – chính là người đã cùng mẹ lên trường Võ bị phục vụ bộ đội trong những ngày đầu tiên tại thị xã Sơn Tây năm 1946. Tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, suốt đời phục vụ nhân dân và cuộc đời thanh bạch, giản dị của thầy Hoàng Đạo Thúy sẽ sống mãi trong lòng người dân Việt
Một ngày đầu xuân Giáp Thân, chúng tôi hân hạnh được mời đến dự liên hoan sinh nhật thứ 80 của Thiếu tướng Chuẩn đô đốc Trần Văn Giang. Từng cùng đồng chí Nguyễn Quang Bích đưa 114 cán bộ sang Trung Quốc đầu năm 1953 học chỉ huy pháo phòng không tại Trường sĩ quan Pháo cao xạ Thẩm Dương, trở về nước trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử 1954 ông là Phó chính uỷ trung đoàn 367 (đơn vị pháo cao xạ phòng không đầu tiên) tạo ra “lưới lửa Điện Biên phủ” bắn rơi nhiều máy bay và cắt đứt "cầu hàng không" của quân đội Pháp. Trong chiến tranh chống Mỹ ông lại là Chính uỷ sư đoàn 361 phòng không bảo vệ bầu trời Hà Nội trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" 1972, hạ nhiều pháo đài bay B52 của giặc Mỹ. Sau này ông còn là Chính uỷ quân chủng Hải quân. Thật cảm động khi thấy những đồng đội của ông râu tóc bạc phơ nhưng vẫn lên ngâm những bài thơ viết về bạn, cùng hát tập thể những bài ca được sáng tác từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Cũng lần đó tôi được ông tặng cho bài thơ “Chim nhạn”.
x
Cuối tháng 4-1949, Văn Giang – Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 121 đóng quân ở Thái Nguyên xin phép về Yên Thế (Bắc Giang) cưới vợ. Cho dù đang trong những ngày gian khó của kháng chiến chống Pháp nhưng cuộc sống vẫn vận hành theo đúng quy luật! Trong buổi tiệc mừng tân hôn có Chính ủy trung đoàn Phạm Ngọc Mậu về dự. Thông cảm với cán bộ và thương cho đôi vợ chồng trẻ, ông tuyên bố: “Cho Văn Giang nghỉ phép 15 ngày bắt đầu từ hôm nay”. Hai vợ chồng nghẹn ngào hạnh phúc, còn gia đình và bà con cô bác thì thầm cảm phục cách xử sự có tình, có lí của bộ đội Cụ Hồ.
Mới nghỉ được 3 ngày thì có lệnh của Bộ gửi về: Văn Giang phải có mặt ở đơn vị để tập trung đi dự lớp “Rèn cán, chỉnh quân”1. Đúng là “chưa bén hơi vợ” nhưng đã là người lính thì “có lệnh là đi”, Văn Giang chia tay vợ khoác ba-lô lên đường. Lớp học ở Xoi Mít (Phúc Trìu, Thái Nguyên) do Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng 2 thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Trần Tử Bình trực tiếp chỉ đạo. Sau hơn 1 tháng học tập, thiếu tướng Văn Tiến Dũng - Chủ nhiệm Chính trị cục (tiền thân của Tổng cục Chính trị) đọc quyết định rút Văn Giang từ đơn vị về Chính trị cục. Hiểu được tâm trạng của chàng trai xa vợ mới cưới, tướng Trần Tử Bình đề nghị với Chủ nhiệm: “Văn Giang mới cưới vợ được 3 ngày, do nhiệm vụ nên tập trung đi học ngay. Anh Mậu đã đồng ý cho Văn Giang nghỉ phép 15 ngày. Học xong rồi, đề nghị anh cho Văn Giang nghỉ phép nốt 12 ngày rồi về Cục công tác”. Nghe vậy tướng Dũng cười: “Đang có việc đột xuất cần Văn Giang về ngay. Xong đợt này, tôi sẽ cho Văn Giang đi phép”.
Nhưng rồi công tác dồn dập, việc nối tiếp việc mà 4-5 tháng sau Văn Giang vẫn chưa có lúc nào rảnh để đi phép. Dù bận rộn nhưng trong lòng không vơi nỗi nhớ. Trong một đêm sương giăng kín đầy trời trên vùng rừng núi của chiến khu Việt Bắc, trăng khuyết khi mờ khi tỏ, nghe vẳng đâu đây tiếng chim nhạn làm Văn Giang thêm nhớ người vợ trẻ. Dưới ánh đèn dầu, anh lấy giấy bút ra cặm cụi viết:
Tiếng nhạn đêm sương nghe buồn da diết
Ngọn đèn khuya tha thiết mắt chờ mong
Chày giã gạo bập bùng vừng trăng khuyết
Gió xạc xào cây lá ngẩn ngơ trông
Anh lỡ hẹn mấy tuần trăng không gặp
Đêm đêm nghe con chim nhạn gọi đàn
Anh ao ước biến mình thành chim nhạn
Sai trời mây bay đến đậu bên em
Bài thơ “Chim nhạn” được gửi tới tay người vợ trẻ.
x
Như một vật chứng lịch sử, bài thơ đã theo gia đình suốt 55 năm qua, đã chứng kiến những tháng ngày gian khó của kháng chiến Chín năm, rồi 20 năm đánh Mỹ và những năm tháng xây dựng đất nước thống nhất. Không chỉ viết một bài thơ tình lãng mạn mà tranh thủ những khoảnh khắc ngưng tiếng súng, hay lúc nhàn rỗi trong thời bình, ông vẫn viết. Cho đến đầu năm 2000, tướng Văn Giang sắp xếp lại những bài thơ suốt nửa thế kỷ qua và cho xuất bản tập thơ “Con Tằm” với một ý nguyện giản dị - tặng bè bạn thân hữu và lưu lại cho con cháu.
Trong đám đồng đội cũ, ông bạn Đỗ Văn Phúc2 cũng nhận được một cuốn từ “nhà thơ”. Trái tim người lính già từng thổi ac-mô-ni-ca “địch vận” trên đồi C1 trên chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa thực sự rung động trước hàng chục bài thơ lãng mạn, nhất là bài “Chim nhạn”. Đầu xuân Giáp Thân, với máu nghệ sĩ của người lính, ông lấy giấy bút ra hí hoáy phổ nhạc. Và trong buổi tiệc trà mừng thọ bạn Văn Giang vào tuổi 80, ông đã cùng bác sĩ trẻ Hồng Sơn (con rể “nhà thơ”) song ca tặng vợ chồng Văn Giang ca khúc trữ tình mang hơi ấm nồng nàn của mối tình lãng mạn của anh lính Cụ Hồ cách đây đã hơn nửa thế kỷ.
Thế hệ trẻ chúng tôi thật cảm phục trí tuệ đầy văn hoá của lớp ngừơi đi trước!




Ngày 17/9/2008, tôi vinh dự có mặt trong buổi viếng thăm của đại diện Thiếu sinh quân các thế hệ tới chúc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở khu biệt thự Hồ Tây. Tiết trời đã sang thu, nắng không còn gắt, gió nhè nhẹ thổi vào từ phía hồ. Nghe nói sau cuộc phẫu thuật năm ngoái ông phải dùng khung inox để tựa khi di chuyển nhưng nay lại thấy ông chầm chậm bước vào phòng khách chỉ cần thêm người đỡ. Phu nhân Đặng Bích Hà đi bên. Thấy trong tốp đón ông có 2 cô gái đứng ở cuối hàng, ông quay ra hỏi: “Sao lại để 2 đồng chí nữ đứng phía sau?”. Ôi, Đại tướng tinh tế làm sao! Chúng tôi ùa vào phòng vây quanh chỗ ngồi của Võ Đại tướng và phu nhân. Khi đã ổn định, đại tá Nguyễn Huyên có lời: “Báo cáo anh Văn, hôm nay đại diện các thế hệ Thiếu sinh quân VN đến thăm và chúc sức khỏe anh”. Nghe đến đây, Đại tướng giơ tay lên chào. Sau khi đại tá Thái Chi (Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi thời kì chống Mỹ) lên tặng hoa, anh Lê Xuân Tùng (Thiếu sinh quân VN 1950, nguyên Bí thư Thành uỷ Hà Nội), thay mặt anh em phát biểu:
- Kính thưa Đại tướng Tổng Tư lệnh, trước hết xin phép được xưng hô “bác, cháu” cho thân tình. Thay mặt anh em Thiếu sinh quân VN các thế hệ, cháu xin có vài lời. Trước hết xin kính chúc bác thật mạnh khỏe để làm chỗ dựa tinh thần cho nhân dân cùng cán bộ, chiến sĩ cả nước! Thưa bác, ngay từ ngày 23/9/1945 ở Nam bộ đã xuất hiện những liên lạc viên, những đồng tử quân tuổi thiếu niên, rồi khi bùng nổ “Toàn quốc kháng chiến” lại xuất hiện những Vệ út của Trung đoàn Thủ đô, những Thiếu sinh quân Khu IV, Khu X... Không khác gì Ga-vơ-rốt các bạn len lỏi khắp các mặt trận lúc thì đưa thư, khi tiếp đạn hay băng bó cho thương binh; khi ngưng tiếng súng lại được thế hệ cha chú dạy chữ, dạy nết. Rồi Đảng, Bác Hồ nhận thấy việc bồi dưỡng kế cận là cần thiết. Đến ngày 10/11/1948, Đại tướng đã kí quyết định số 425/TCH cho Thiếu sinh quân các đơn vị được đi học tập trung và thống nhất gọi thế hệ ấy là Thiếu sinh quân VN. Hôm nay, các bạn Thiếu sinh quân từ miền
Trong không khí rất ấm cúng, gần gũi giữa anh Văn - người anh cả của lực lượng vũ trang với các thế hệ Thiếu sinh quân, bà Hà quay sang ông: “Vậy anh phải có phát biểu gì cho văn văn một chút chứ?”. Ngưng một lát, Đại tướng chậm dãi nói:
- Hôm nay các đồng chí đại diện cho Thiếu sinh quân VN các thế hệ chống Pháp, chống Mỹ và thời kì đổi mới từ mọi miền Tổ quốc đến thăm và chúc sức khỏe. Tôi rất xúc động và xin chân thành cảm ơn các đồng chí! (Anh em vỗ tay hưởng ứng). Vậy Thiếu sinh quân các thế hệ đã cống hiến cho Tổ quốc thế nào?
Anh Lê Xuân Tùng tiếp lời: “Đã 60 năm trôi qua, thế hệ Thiếu sinh quân thời chống Pháp đều trưởng thành. Sau đó có nhiều đồng chí đảm nhận những cương vị trọng trách của Đảng, Nhà nước, là tướng lĩnh như Vũ Khoan, Vũ Mão, Bùi Hồng Phúc, Cao Long Hỷ..., có nhiều bạn là những nhà khoa học, giáo sư, viện sĩ hay văn nghệ sĩ nổi tiếng. Có cả những “tư sản đỏ” như Lê Minh Ngọc. Đến nay, lớp chúng cháu đã ngoài 70, có bạn đã gần 80, hầu hết đã nghỉ hưu…”. Nghe đến đây, Đại tướng ngắt lời: “Các đồng chí xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”! Còn thế hệ chống Mỹ thì thế nào?”.
- Báo cáo Đại tướng, - Chuẩn đô đốc Hải quân Lê Văn Đạo tiếp - thế hệ chống Mỹ có trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Hiện nay lứa chúng cháu còn nhiều bạn đang công tác. Trong số đó có bạn Nguyễn Thiện Nhân là Phó Thủ tướng và 1 trung tướng, 11 thiếu tướng cùng các cán bộ cao cấp trong và ngoài quân đội. Thời kì đổi mới có các trường Thiếu sinh quân của quân khu I, V, IX và TpHCM là những địa chỉ cung cấp nguồn đào tạo sĩ quan cho quân đội.
- Vậy là tốt, công tác đào tạo cán bộ vô cùng quan trọng!
Khi biết lần này về thăm có thầy trò trường Thiếu sinh quân Quân khu I do Hiệu trưởng đại tá Đàm Dũng - con trai của Trung tướng Đàm Văn Nguỵ, ông cảm thấy thật hài lòng vì con cháu đồng đội đã tiếp được bước cha anh.
Nhà báo Sĩ Ẩn thay mặt Ban Liên lạc truyền thống các trường Thiếu sinh quân VN lên gắn kỷ niệm chương cho Đại tướng và báo cáo: “Ngày 26/10 năm nay, tại TpHCM, họp mặt chính thức của Thiếu sinh quân toàn quốc các thế hệ sẽ được tổ chức. Chúng cháu nhất trí chọn ngày 10/11 là ngày truyền thống của Thiếu sinh quân VN”.
Đến phần tặng quà cho Đại tướng, ông yêu cầu cho xoay lại tấm ảnh để nhìn rõ hơn những chú bé đầu trọc, tay cầm sách, ngồi học ngay bên hào giao thông trong rừng hay cả lớp C2 trong quân phục đứng quanh thầy giáo Phạm Tuyên, thời kì ở La Bằng, Thái Nguyên năm 1950. Cảm động hơn khi Đại tá Nguyễn Xuân Thâm, cựu Thiếu sinh quân 1946, được giới thiệu sẽ tặng Đại tướng một món quà đặc biệt. Anh Thâm đứng sát bên Đại tướng, nói: “Báo cáo Đại tướng, trong tấm ảnh này là cháu và anh Phát. Chúng cháu chụp trước khi lên tầu vào miền Nam đi Nam tiến cuối năm 1945. Đã 63 năm trôi qua…”. Đại tướng nheo mắt ngắm những người trong ảnh rồi quay lại nhìn 2 “chiến sĩ già” của mình với ánh mắt đầy xúc động.
Thời gian chuyện trò bên Đại tướng không cho phép kéo dài, sợ ảnh hưởng tới sức khỏe. Chúng tôi được bố trí chụp ảnh chung với ông, sau đó là bức ảnh của anh em đại diện miền
Đúng là một buổi gặp gỡ hiếm có của một vị Tổng chỉ huy với những người lính!
Nhưng tôi khoá 5?”. ”Ông ở Ban Liên lạc trường, lại từ miền Nam ra. Anh em nhất trí tiến cử ơng!”. Chỉ mấy câu ngắn gọn, tôi hiểu đây không chỉ là vinh dự mà còn là một mệnh lệnh vì được thay mặt toàn trường báo cáo với Đại tướng. Toàn bộ nội dung tuy đã sẵn trong đầu nhưng phải tóm gọn lại vì không cho phép nói dài, ảnh hưởng tới sức khỏe của bác.
tế Phùng Thế Quảng, v.v…
Năm ngóai khi Hoàng Phước Bình k4 vào TpHCM chăm sóc con gái thay thận, Bình mời tôi về nhà. Khi ra về, hắn tặng tấm ảnh nhân ngày kỷ niệm thành lập Đội Thiếu niên tiền phong VN 15/5/1965, bà chị Bình được vinh dự thay mặt các bạn tặng Bác Hồ chân dung anh Trỗi. Đây là niềm tự hào của gia đình, nhất là ông bà già.
Nay xin giới thiệu!
khu vực Tp HCM được thành lập trong tổ chức Hội CCB VN TpHCM.
em!Là con của những cựu tù chính trị thời chống Pháp, chúng tôi mong có dịp thăm lại những nơi cha chúng tôi đã sống, chiến đấu và chiến thắng. Vào dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh, Liệt sĩ (27/7/2007) chúng tôi đã lên thăm Nhà tù Sơn La và gia đình LS-AHLLVT Lò Văn Giá.
Sơn La – hơn 60 năm trước là nơi “rừng thiêng nước độc”, nợi mà thực dận Pháp đã biến thành địa ngục trần gian để lưu đày, hành hạ, giết dần giết mòn cả thể xác lẫn tinh thần những người chống lại chúng. Giữa núi rừng Tây Bắc điệp trùng, hôm nay mọc lên 1 thị xã, tuy chưa thật rộng lớn, sầm uất nhưng những con đuờng mới mở, những công trình đang xây, cho thấy sẽ là 1 thị xã đẹp và thơ mộng trong tương lai.
Đây là khu di tích Nhà tù Sơn La, nơi cha chúng tôi đã từng bị thực dân Pháp giam giữ. Nhà ngục trên đỉnh đồi đã bị bom Pháp (1944) và bom Mỹ (1968) phá hỏng. Phần tường nhà giam nổi trên mặt đất chỉ còn 30-50cm; nhưng cũng đủ đề hình dung trong khuôn viên 2170m2 ấy đã có 49 phòng giam lớn nhỏ với các hình thù méo mó, dị dạng. Thời gian cao điểm nhất có tới 500 tù chính trị bị giam cầm tại đây. Đã được nghe kể nhiều về Nhà tù Sơn La nhưng khi tận mắt nhìn từng phòng giam và nghe những câu chuyện gắn với nó qua lời cán bộ thuyết minh của Bảo tàng mới thật xúc động.
Nhà tù Sơn La không chỉ nổi danh với chế độ hà khắc, những ngón đòn tra khảo tàn bạo, độc ác của bọn thực dận, là minh chứng sống cho ý chí bất khuất, nghị lực phi thường, niềm tin mãnh liệt của những chiến sĩ cộng sản lớp tiền bối mà hôm nay đây tên tuổi được lưu lại trên các đường phố của thị xã như Tô Hiệu, Trần Huy Liệu… mà còn được biết đến bởi cuộc vượt ngục có 1 không 2 như huyền thoại của 4 chiến sĩ cộng sản Trần Đăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu. Cuộc vượt ngục, xuyên rừng, lội suối, leo đèo ấy do anh thanh niên dân tộc Thái Lò Văn Giá dũng cảm đưa đường.
Chúng tôi dành nửa thời gian ở Sơn La đến thăm gia đình anh Lò Văn Thiện, con trai AH-LS Lò Văn Giá. Anh Thiện kể lại: Khi bố tôi đưa đường cho các bác ra tới nơi an toàn, khi trở về nhà thì bị Pháp phục bắt và xử bắn ngay. Lúc đó tôi mới 2 tháng tuổi, chị gái tôi (Lò Thị Liêu) khoảng 2 tuổi, nhà còn bà nội già yếu. Gia đình tôi đã từng rất khó khăn nhưng các bác chưa bao giờ quên chúng tôi. Tôi đã từng được Đảng, Nhà nước cho sang Liên-xô học về công tác Đoàn, rồi về làm việc ở Văn phòng Tỉnh uỷ. Nay cả 2 vợ chồng đã nghỉ hưu với lương hưu gần 3 triệu/tháng. Năm đứa con tôi đều được chính quyền chăm lo chu đáo, được tạo điều kiện học các trường phổ thông, trường dạy nghề. Cái khó là ở chỗ bây giờ yêu cầu nhiều tiêu chuẩn mà các cháu khó đáp ứng như vi tính, ngoại ngữ… cho nên chưa tìm được việc làm.
Trong không khí thân tình, anh Thiện chỉ vào ngôi nhà sàn bằng bê-tông kiên cố, khang trang và kể rằng đó là quà tặng của Tỉnh uỷ năm 1989. Gia đình có sửa lại cho đẹp hơn nhưng vẫn giữ dáng dấp bao đời của nhà sàn dân tộc Thái. Anh chị rót rượu mời chúng tôi cùng chúc cho nhau sức khỏe và may mắn.
Lưu luyến chia tay anh chị Thiện và các cháu, trong lòng thầm chúc cho các cháu sớm tìm được việc làm thích hợp.
Tháng 8/2007
Vân Mai - Quảng Nguyên
(BBT: Tháng 7/2007, các bạn k6 Tường Vân, Tuấn Quảng, Thắng “híp” đã du hành lên thăm Sơn La).