Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi
Thứ Năm, 11 tháng 12, 2008
Thứ Năm, 30 tháng 10, 2008
Buổi tiếp kiến Võ Đại tướng của Thiếu sinh quân các thế hệ
Ngày 17/9/2008, tôi vinh dự có mặt trong buổi viếng thăm của đại diện Thiếu sinh quân các thế hệ tới chúc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở khu biệt thự Hồ Tây. Tiết trời đã sang thu, nắng không còn gắt, gió nhè nhẹ thổi vào từ phía hồ. Nghe nói sau cuộc phẫu thuật năm ngoái ông phải dùng khung inox để tựa khi di chuyển nhưng nay lại thấy ông chầm chậm bước vào phòng khách chỉ cần thêm người đỡ. Phu nhân Đặng Bích Hà đi bên. Thấy trong tốp đón ông có 2 cô gái đứng ở cuối hàng, ông quay ra hỏi: “Sao lại để 2 đồng chí nữ đứng phía sau?”. Ôi, Đại tướng tinh tế làm sao! Chúng tôi ùa vào phòng vây quanh chỗ ngồi của Võ Đại tướng và phu nhân. Khi đã ổn định, đại tá Nguyễn Huyên có lời: “Báo cáo anh Văn, hôm nay đại diện các thế hệ Thiếu sinh quân VN đến thăm và chúc sức khỏe anh”. Nghe đến đây, Đại tướng giơ tay lên chào. Sau khi đại tá Thái Chi (Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi thời kì chống Mỹ) lên tặng hoa, anh Lê Xuân Tùng (Thiếu sinh quân VN 1950, nguyên Bí thư Thành uỷ Hà Nội), thay mặt anh em phát biểu:
- Kính thưa Đại tướng Tổng Tư lệnh, trước hết xin phép được xưng hô “bác, cháu” cho thân tình. Thay mặt anh em Thiếu sinh quân VN các thế hệ, cháu xin có vài lời. Trước hết xin kính chúc bác thật mạnh khỏe để làm chỗ dựa tinh thần cho nhân dân cùng cán bộ, chiến sĩ cả nước! Thưa bác, ngay từ ngày 23/9/1945 ở Nam bộ đã xuất hiện những liên lạc viên, những đồng tử quân tuổi thiếu niên, rồi khi bùng nổ “Toàn quốc kháng chiến” lại xuất hiện những Vệ út của Trung đoàn Thủ đô, những Thiếu sinh quân Khu IV, Khu X... Không khác gì Ga-vơ-rốt các bạn len lỏi khắp các mặt trận lúc thì đưa thư, khi tiếp đạn hay băng bó cho thương binh; khi ngưng tiếng súng lại được thế hệ cha chú dạy chữ, dạy nết. Rồi Đảng, Bác Hồ nhận thấy việc bồi dưỡng kế cận là cần thiết. Đến ngày 10/11/1948, Đại tướng đã kí quyết định số 425/TCH cho Thiếu sinh quân các đơn vị được đi học tập trung và thống nhất gọi thế hệ ấy là Thiếu sinh quân VN. Hôm nay, các bạn Thiếu sinh quân từ miền
Trong không khí rất ấm cúng, gần gũi giữa anh Văn - người anh cả của lực lượng vũ trang với các thế hệ Thiếu sinh quân, bà Hà quay sang ông: “Vậy anh phải có phát biểu gì cho văn văn một chút chứ?”. Ngưng một lát, Đại tướng chậm dãi nói:
- Hôm nay các đồng chí đại diện cho Thiếu sinh quân VN các thế hệ chống Pháp, chống Mỹ và thời kì đổi mới từ mọi miền Tổ quốc đến thăm và chúc sức khỏe. Tôi rất xúc động và xin chân thành cảm ơn các đồng chí! (Anh em vỗ tay hưởng ứng). Vậy Thiếu sinh quân các thế hệ đã cống hiến cho Tổ quốc thế nào?
Anh Lê Xuân Tùng tiếp lời: “Đã 60 năm trôi qua, thế hệ Thiếu sinh quân thời chống Pháp đều trưởng thành. Sau đó có nhiều đồng chí đảm nhận những cương vị trọng trách của Đảng, Nhà nước, là tướng lĩnh như Vũ Khoan, Vũ Mão, Bùi Hồng Phúc, Cao Long Hỷ..., có nhiều bạn là những nhà khoa học, giáo sư, viện sĩ hay văn nghệ sĩ nổi tiếng. Có cả những “tư sản đỏ” như Lê Minh Ngọc. Đến nay, lớp chúng cháu đã ngoài 70, có bạn đã gần 80, hầu hết đã nghỉ hưu…”. Nghe đến đây, Đại tướng ngắt lời: “Các đồng chí xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”! Còn thế hệ chống Mỹ thì thế nào?”.
- Báo cáo Đại tướng, - Chuẩn đô đốc Hải quân Lê Văn Đạo tiếp - thế hệ chống Mỹ có trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Hiện nay lứa chúng cháu còn nhiều bạn đang công tác. Trong số đó có bạn Nguyễn Thiện Nhân là Phó Thủ tướng và 1 trung tướng, 11 thiếu tướng cùng các cán bộ cao cấp trong và ngoài quân đội. Thời kì đổi mới có các trường Thiếu sinh quân của quân khu I, V, IX và TpHCM là những địa chỉ cung cấp nguồn đào tạo sĩ quan cho quân đội.
- Vậy là tốt, công tác đào tạo cán bộ vô cùng quan trọng!
Khi biết lần này về thăm có thầy trò trường Thiếu sinh quân Quân khu I do Hiệu trưởng đại tá Đàm Dũng - con trai của Trung tướng Đàm Văn Nguỵ, ông cảm thấy thật hài lòng vì con cháu đồng đội đã tiếp được bước cha anh.
Nhà báo Sĩ Ẩn thay mặt Ban Liên lạc truyền thống các trường Thiếu sinh quân VN lên gắn kỷ niệm chương cho Đại tướng và báo cáo: “Ngày 26/10 năm nay, tại TpHCM, họp mặt chính thức của Thiếu sinh quân toàn quốc các thế hệ sẽ được tổ chức. Chúng cháu nhất trí chọn ngày 10/11 là ngày truyền thống của Thiếu sinh quân VN”.
Đến phần tặng quà cho Đại tướng, ông yêu cầu cho xoay lại tấm ảnh để nhìn rõ hơn những chú bé đầu trọc, tay cầm sách, ngồi học ngay bên hào giao thông trong rừng hay cả lớp C2 trong quân phục đứng quanh thầy giáo Phạm Tuyên, thời kì ở La Bằng, Thái Nguyên năm 1950. Cảm động hơn khi Đại tá Nguyễn Xuân Thâm, cựu Thiếu sinh quân 1946, được giới thiệu sẽ tặng Đại tướng một món quà đặc biệt. Anh Thâm đứng sát bên Đại tướng, nói: “Báo cáo Đại tướng, trong tấm ảnh này là cháu và anh Phát. Chúng cháu chụp trước khi lên tầu vào miền Nam đi Nam tiến cuối năm 1945. Đã 63 năm trôi qua…”. Đại tướng nheo mắt ngắm những người trong ảnh rồi quay lại nhìn 2 “chiến sĩ già” của mình với ánh mắt đầy xúc động.
Thời gian chuyện trò bên Đại tướng không cho phép kéo dài, sợ ảnh hưởng tới sức khỏe. Chúng tôi được bố trí chụp ảnh chung với ông, sau đó là bức ảnh của anh em đại diện miền
Đúng là một buổi gặp gỡ hiếm có của một vị Tổng chỉ huy với những người lính!
Thứ Ba, 26 tháng 8, 2008
BA MƯƠI PHÚT TIẾP KIẾN ĐẠI TƯỚNG
Sắp đến ngày Hội trường, Ban Liên lạc phía Nam được báo: Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận lời đến dự họp mặt ở Hà Nội. Trong lễ kỷ niệm tại thành phố Hồ Chí Minh, sáng 8 tháng 10, khi ban tổ chức thông báo tin này, cả hội trường vỗ tay rần rần. Vậy là bác vẫn dõi theo từng bước trưởng thành của anh em ta.
Sáng hôm sau, chúng tôi (Dương Minh, Hồ Bá Đạt, Dương Đức Hải, Hồng Hà, Kiến Quốc…) từ miền Nam bay ra, có mặt tại Trung tâm Báo chí quốc tế - 11 Lê Hồng Phong. Thầy trò, bạn bè bao năm mới gặp nhau. Mừng vui khôn xiết. Thật tiếc hôm đó bác Văn không đến vì được mời dự lễ hội “995 năm - Thăng Long, Hà Nội”. Vợ bác, cô Đặng Bích Hà, thay mặt đến dự. Với thầy, trò trường Trỗi, nhất là khách từ Quế Lâm sang, thì đây là một hạnh phúc! Cuối buổi lễ, chúng tôi quây quần bên cô chụp ảnh kỉ niệm. Tối hôm đó, đang dự tiệc đáp lễ của trường Y Trung, Võ Hạnh Phúc điện thoại báo tin: “ông già” đồng ý cho anh em Trỗi tiếp kiến vào sáng mai.
Gần 10 rưỡi sáng, anh em tập trung ở cổng 30 Hoàng Diệu. Hùng Thanh ghé tai tôi: “Ông thay mặt anh em phát biểu!”. “
Nhưng tôi khoá 5?”. ”Ông ở Ban Liên lạc trường, lại từ miền Nam ra. Anh em nhất trí tiến cử ơng!”. Chỉ mấy câu ngắn gọn, tôi hiểu đây không chỉ là vinh dự mà còn là một mệnh lệnh vì được thay mặt toàn trường báo cáo với Đại tướng. Toàn bộ nội dung tuy đã sẵn trong đầu nhưng phải tóm gọn lại vì không cho phép nói dài, ảnh hưởng tới sức khỏe của bác.Chúng tôi được mời vào phòng tiếp khách. Trong văn phòng Đại tướng thấy ảnh, trướng treo kín bốn bức tường. Dương Minh Đức mời đại tá Trịnh Nguyên Huân cùng dự. Hạnh Phúc chạy đi chạy lại rồi vào thông báo: “Ông già cẩn thận hỏi ai phát biểu chính. Tớ bảo Kiến Quốc, con bác Trần Tử Bình. Cụ gật đầu. Khi bác Văn và cô Hà bước vào, chúng tôi cùng đứng dậy. Châu Nguyên, Dương Minh ôm hai bó hoa ra tặng. Bác nhận hoa, cảm ơn rồi mời mọi người cùng ngồi. Tôi được xếp ngồi cạnh bác. Khi đã ổn định, tôi đứng lên xin phép bắt đầu:
- Kính thưa bác Võ Nguyên Giáp và cô Hà! Thay mặt cho thầy, trò trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, cháu xin cám ơn bác và cô đã dành cho chúng cháu chút ít thời gian để có buổi gặp mặt quý báu này! Chúng cháu - những học sinh chuyên Toán khóa 4 và 5, cùng với Võ Hạnh Phúc, thay mặt toàn trường, chúc cô và bác mạnh khỏe, sống lâu!
Thưa bác, ngày 15 tháng 10 năm nay, trường Nguyễn Văn Trỗi kỉ niệm 40 năm truyền thống. Sáng hôm qua, thầy, trò toàn trường cùng đại biểu phụ huynh học sinh, gia đình liệt sĩ, đại diện xã Mỹ Yên, Đại Từ và cả các thầy, bạn từ Quế Lâm (Trung Quốc) đã về Hà Nội, dự Ngày hội trường. Trong 5 năm, từ 1965 đến 1970, nhà trường với hơn 200 thầy, cô giáo đã đào tạo 8 khóa với gần 1.200 học sinh. Bốn mươi năm qua, được sự giáo dục, rèn luyện của quân đội, của nhà trường, có hơn 800 bạn trở thành sĩ quan quân đội, gần 1.000 bạn có trình độ đại học và trên đại học, trên 100 bạn có học vị tiến sĩ. Hiện nay, hàng trăm học sinh của nhà trường là cán bộ cao cấp trong quân đội, nhiều người làm công tác nghiên cứu trong các học viện, nhà trường, nhiều bạn đảm đương những nhiệm vụ trọng trách trong bộ máy quản lí trong và ngoài quân đội, như Thiếu tướng Nguyễn Chiến, Thứ trưởng Trần Chiến Thắng, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân, Phó ban Nội chính Trung ương Dương Thành Bắc, Cục trưởng Cục Đầu tư Bùi Vinh, Cục phó Cục Kinh
tế Phùng Thế Quảng, v.v…- Thế đồng chí quên chưa báo cáo về mình? – Bác quay sang hỏi tôi.
(Nghe bác hỏi, đứa nào trong chúng tôi đều cảm phục vị tướng già, chỉ còn vài năm nữa là tròn 100 tuổi, vậy mà sáng suốt lạ thường!).
- Báo cáo bác, cháu và nhiều bạn ở đây là học trò của thầy Trịnh Nguyên Huân ở Đại học Kỹ thuật quân sự. (Tôi chỉ tay về phía anh Huân). Sau khi ra trường, cháu được giữ lại làm giáo viên 15 năm. Đến năm 1990 thì chuyển ngành ra Hội Tin học. Hiện nay là chủ doanh nghiệp may mặc xuất khẩu ở thành phố Hồ Chí Minh với trên 1000 công nhân.
- Thế doanh số xuất khẩu bao nhiêu? Xuất đi đâu?
- Dạ, mỗi năm trên 200 tỷ và xuất sang Mỹ, EU, Nhật bản, Hàn Quốc ạ. Thưa bác, chúng cháu rất tự hào với truyền thống cách mạng của gia đình, của cha mẹ và luôn dạy cho con cháu truyền thống đó. Chúng cháu kiên quyết đi theo con đường của bác, của cô Hà và của cha mẹ đã đi.
- Như vậy là tốt! Các cháu nên nhớ dân tộc ta đã anh hùng trong bảo vệ Tổ quốc nhưng nếu để cho đất nước nghèo nàn, lạc hậu là có tội, là một nỗi nhục lớn. Bây giờ đến ai phát biểu? – Bác chỉ Châu Nguyên, con bác Trần Đăng Ninh, ngồi cạnh cô Hà - Phải ưu tiên cho con gái, Châu Nguyên có ý kiến gì nào?
Châu Nguyên đứng lên, xúc động nói:
- Kính thưa bác Văn, thưa cô Hà, gia đình cháu luôn không quên sự quan tâm và tình cảm của cô, bác dành cho… (Châu Nguyên lau nước mắt). Những năm tháng được học tập dưới mái trường Văn hoá quân đội, được các thầy, cô giáo tận tình chăm sóc, dạy dỗ, chúng cháu đã trưởng thành. Bốn mươi năm qua, đứa nào cũng giữ được bản chất tốt đẹp của cha mẹ - thẳng thắn, trung thực, không có bạn nào dính vào tham nhũng, tham ô, không có ai mua quan bán chức.
- Rất tốt! – Đại tướng ngợi khen.
Biết chúng tôi không quên công ơn của nhân dân Trung Quốc, của thành phố Quế Lâm dành cho nhà trường những năm sáu bảy, sáu tám; và hiện nay vẫn duy trì quan hệ tốt với thầy, trò trường Y Trung theo đường lối “ngoại giao nhân dân”, bác gật đầu: “Vậy các cháu biết sống nghĩa tình, có trước có sau!”. Nhân tiện cô Hà còn nhắc lại chuyện cũ: “Ngày mới tổ chức nhà trường, cũng có ý kiến cho là Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng nuông chiều con cái cán bộ. Cô có ba đứa là học sinh nhà trường nghe nói vậy cũng dao động, định xin cho con về. Qua bốn mươi năm, các cháu được đào tạo và trưởng thành đã chứng minh: quyết định ngày ấy là hoàn toàn đúng!”. Cô vừa dừng lời, tôi đứng lên: “Báo cáo bác và cô, chúng cháu rất tự hào vì trường Nguyễn Văn Trỗi có hai thầy giáo và 27 học sinh đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc. Tại sao lại nói con cái cán bộ chỉ trốn tránh nghĩa vụ, không dám ra trận? (Chợt nhớ tới phải tặng bác cuốn sách, tôi cầm lên, trao cho bác)... Thưa bác, Phan Đình Nhân đã biếu bác cuốn “Sinh ra trong khói lửa” tập II. Đó là quà của Ban Liên lạc nhà trường. Còn đây là quà của Ban biên tập biếu bác. Tác phẩm này được thầy, trò chúng cháu làm từ A đến Z”. Cụ hóm hỉnh ngắt lời:
- Vậy tập I đâu?
- Thưa bác, cháu và anh Kháng Chiến đã đến thăm và tặng bác tập I vào dịp Tết năm 2002 ạ. (Tôi chỉ vào trang bìa có hình ảnh người chiến sĩ đang đưa tay lên vành mũ chào). Đây là liệt sĩ Lê Minh Tân - con chú Lê Bưởi, đại tá, lính của bác ở Bộ Tổng tham mưu. Trước khi ra mặt trận, anh có một lời thề “Vào Đảng mới viết thư về nhà!”. Anh đã giữ đúng lời thề đó. Viết xong lá thư đầu tiên (và cũng là lá thư cuối cùng) vừa đúng sáu ngày thì anh hy sinh…
Bác lặng đi một lúc rồi quay sang viên sĩ quan cận vệ: “Lấy cho tôi cuốn “Điện Biên Phủ”, xuất bản năm 2004, để tặng nhà trường!”. Viên sĩ quan mở trang đầu, trao bút cho Đại tướng, nói:
- Dạ, xin anh viết “Thân tặng Trường…”.
Vừa nghe anh ta nói, tôi liền nheo mắt. Cái anh chàng này trẻ măng, bằng tuổi cháu mình, “mới nứt mắt” mà dám gọi cụ là “anh”? Còn bác thì thoải mái phóng bút. Chữ cụ vẫn rất đẹp. Lúc bác viết, cô Hà mời: “Các cháu cứ tự nhiên tâm sự, như họp mặt gia đình ấy mà! Ngồi nói cũng được”. Hồ Chương vẻ mặt suy tư, lúc ấy mới mạnh dạn:
- Thưa bác, thưa cô! Cháu là Hồ Chương. Chưa được trực tiếp nói chuyện với bác lần nào nhưng cháu cũng đã nhiều lần được đón bác xuống thăm Viện Kỹ thuật quân sự. Bố cháu là Xuân Thiêm, trước công tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội…
Vừa nghe đến tên bố của Hồ Chương, cô Hà nói:
- Bố cháu là nhà thơ, nhà thơ Xuân Thiêm. Cô biết. Cô sẽ gửi tặng bố cháu cuốn Hồi ký của ông Đặng Thai Mai. Nay bố cháu sống ở đâu?
- Dạ, bố cháu nghỉ hưu ở Hưng Yên ạ.
Nhận ra sự có mặt của nghệ sĩ ưu tú, đại tá Dương Minh Đức, phu nhân Đại tướng vui vẻ hỏi:
- Cô nhớ cháu là “giọng ca vàng”, có đúng không?
- Dạ, đúng ạ – Đức trả lời - nhưng đã lâu rồi. Thỉnh thoảng cháu vẫn đi biểu diễn. Hiện nay thì vừa dạy học vừa làm công tác quản lí.
- Cháu hãy báo cáo về công việc của nhà trường cho bác Văn nghe!
- Thưa bác Văn, về trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật quân đội, bác đã biết. Cháu chỉ xin báo cáo một công việc điển hình: Vừa qua, nhà trường đã xin được kinh phí của Bộ Quốc phòng, đào tạo miễn phí con em các dân tộc Tây Nguyên. Vụ “nhà nước Đề-ga” năm nào là bài học đau xót vì chúng ta không nắm được dân. Chúng cháu quan niệm muốn nắm được dân phải thông qua văn hoá, mà chính các em được quân đội đào tạo sẽ là những người nòng cốt. Cháu xin báo với bác một tin vui, nhân dịp 60 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh mùng 2 tháng 9, 120 em học sinh (trong đó có 80 em người dân tộc Tây Nguyên) đã biểu diễn thành công tại Nhà hát lớn Hà Nội vở ca kịch “Đất nước đứng lên”, phỏng theo tác phẩm cùng tên của nhà văn Nguyên Ngọc, do nhạc sĩ An Thuyên cùng tập thể giáo viên nhà trường dàn dựng.
- Tốt! Các cháu làm được nhiều việc tốt! – Đại tướng vui ra mặt - Nhưng không chỉ làm tốt, các cháu phải dũng cảm, dám đấu tranh với cái xấu, phải dám nói các chính kiến của mình trong các diễn đàn, hội nghị.
Trong khi bác đang nói, tôi nghe thấy chàng sĩ quan cận vệ ghé tai cô Hà, nói nhỏ: “Chị viết tặng sách xong để còn kết thúc. Anh phải nghỉ một lát rồi còn làm việc với anh Huyên!”. Lúc đó tôi mới hiểu: À, ra các đồng chí trong Văn phòng Đại tướng luôn gọi bác là “anh Văn” để tạo cho bác một tâm lí – “còn rất trẻ”. Cũng là một liều thuốc bổ! Đúng lúc đó Hạnh Phúc ghé tai tôi, thì thầm: “Văn Công Phước muốn phát biểu. Cậu giới thiệu đi!”. (Chơi với Hạnh Phúc từ ngày còn bé vì hai nhà sát gần nhau. Trước khi lên trường Trỗi còn cùng sơ tán lên cơ quan Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ở Vĩnh Yên, chỗ chú Kim Ngọc. Nay thấy bạn xử sự đầy kinh nghiệm, tôi rất phục). Chờ cho cô Hà viết xong, tôi đứng lên, thưa:
- Thưa bác, thưa cô, cuộc gặp gỡ cũng đã dài, sợ bác mệt. Nay bạn Văn Công Phước xin có lời kết thúc!
Phước trịnh trọng đứng lên:
- Kính thưa bác Võ Nguyên Giáp, cháu là Văn Công Phước - đại tá, bác sĩ, từng công tác ở Viện quân y 175. Nay được Bộ Y tế tin tưởng giao nhiệm vụ mới, giám đốc Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ. Ở địa bàn miền Tây Nam bộ, bà con ta có nhiều đóng góp cho cách mạng trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Chiến tranh đã kết thúc 30 năm nhưng cuộc sống của bà con còn rất nhiều thiếu thốn, nhất là vấn đề chăm sóc sức khỏe. Với chúng cháu công việc mới chỉ là bắt đầu, nhưng xin hứa với bác mang theo tinh thần của học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, chúng cháu sẽ quyết tâm xây dựng bệnh viện trở thành một trung tâm y tế mạnh ở vùng sâu vùng xa. Cuối cùng, cháu xin kính chúc bác, cô và gia đình thật mạnh khoẻ, hạnh phúc!
Phước vừa phát biểu xong, chúng tôi vỗ tay và chạy lên vây quanh bác. Bác giục: “Bác cháu ta tranh thủ chụp mấy tấm ảnh kỷ niệm để còn làm việc khác!”. Cô Hà và bác Văn như cha như mẹ ngồi giữa, còn chúng tôi như bầy con ríu rít xung quanh. Xong xuôi, từng đứa lên nắm chặt tay, chào bác. (Thật ra ai cũng muốn nấn ná kéo dài thời gian để được trò chuyện với Đại tướng, nhưng là người lính, chúng tôi hiểu thế nào là “giới hạn cho phép”…).
Buổi viếng thăm Đại tướng - lão đồng chí mà tên tuổi lẫy lừng năm châu bốn biển, thật bình dị, dân dã, ấp áp tình cha con, tình đồng chí, đồng đội. Hiếm có một buổi gặp gỡ nào cảm động hơn thế!
Vừa ra tới cửa đã thấy đại tá Nguyễn Huyên, mang theo tài liệu, bước vào. Tôi thầm nghĩ, sức làm việc của Đại tướng quả là phi thường!
Thứ Năm, 21 tháng 8, 2008
Chiến sĩ quốc tế Đào Chính Nam
Cụ Đào Chính Nam là phụ huynh của Đào Đức Thanh k7. Khi bài đã được in, Thanh báo: khi ông được Phùng Chí Kiên giao nhiệm vụ nằm lại trong đội ngũ quân Tưởng, chúng đã gắn cho ông quân hàm đại tá. Thậm chí sau này suýt phong thiếu tướng thì ông bỏ về với cách mạng.
Thứ Tư, 20 tháng 8, 2008
Năm ngóai khi Hoàng Phước Bình k4 vào TpHCM chăm sóc con gái thay thận, Bình mời tôi về nhà. Khi ra về, hắn tặng tấm ảnh nhân ngày kỷ niệm thành lập Đội Thiếu niên tiền phong VN 15/5/1965, bà chị Bình được vinh dự thay mặt các bạn tặng Bác Hồ chân dung anh Trỗi. Đây là niềm tự hào của gia đình, nhất là ông bà già.
Nay xin giới thiệu!
Thứ Hai, 18 tháng 8, 2008
Tuổi hai mươi được tham gia lật trang sử nước nhà
Đã 85 tuổi nhưng vẫn còn nhanh nhẹn và minh mẫn, ông chậm rãi kể lại những kỷ niệm của hơn 60 năm trước…
Ông Lê Trọng Nghĩa trước cửa Nhà hát Lớn TP Hà Nội
…Đầu năm 1939, khi đang học trường Gia Long (Hà Nội) thì tôi chuyển về Hải Phòng, tiếp tục học Thành chung năm thứ 3 và 4 ở trường Bonnal do ông Le Mineur, người Pháp, làm Hiệu trưởng.
Ngày mới về nghe đồn trong lớp có một bạn học rất giỏi và tài hoa. Đó chính là Nguyễn Đình Thi. Nhà trường hay tổ chức liên hoan văn nghệ, Thi thường lên sân khấu vừa đệm măng-đô-lin vừa hát. Từ đó chúng tôi luôn bên nhau.
Ở trường, trong giờ Lịch sử, các giáo sư người Pháp giảng cả về Cách mạng Dân chủ tư sản Pháp cùng tên tuổi các nhà cách mạng, cả về Công xã Ba-lê…
Việc làm này đã hình thành trong đầu óc học sinh chúng tôi những tư tưởng tự do, dân chủ. Ngoài giờ học, anh em hay tham gia sinh hoạt ngoại khóa.
Thi là hội viên Hội Hướng đạo do cụ Hoàng Đạo Thúy đứng ra tổ chức, hoạt động công khai thông qua các sinh hoạt tập thể (cắm trại, dã ngoại…), nêu cao tinh thần yêu nước.
Tháng 9/1940, Nhật nhảy vào Lạng Sơn, sau đó ném bom Hải Phòng. Dân thành phố Cảng trực tiếp chịu tai họa chiến tranh. Mỗi lần thấy giặc Nhật ngang nhiên chém giết dân ta mà nung nấu chí căm hờn.
Thanh niên, học sinh Hải Phòng ngấm ngầm tìm hiểu sách báo của Tự lực Văn đoàn, Mặt trận Bình dân, của phong trào dân chủ ở Sài Gòn, thậm chí đọc cả sách của Hít-le…
Hiểu biết dần được mở mang. Tôi và anh Thi cùng một số bạn bí mật trao tay những sách báo tiến bộ: “Đông Dương, SOS!”, “Lịch sử Đảng cộng sản Bôn-sê-vich Nga”…
Chúng tôi trăn trở: Thi xong diplome sẽ làm gì? Đi theo con đường nào, cộng sản quốc tế hay giải phóng dân tộc? Theo quốc tế cộng sản thì vấn đề dân tộc Việt sẽ ra sao? Cách mạng xong thì nhà nước được tổ chức thế nào?...
Có tin ở Bắc Sơn, Việt Bắc đang có chiến tranh du kích, rồi tin về Khởi nghĩa Nam Kỳ… Nhất là với tin tức về Mặt trận Việt Minh, chúng tôi đã khẳng định: “Chương trình Việt Minh” kết hợp được 2 vấn đề quốc gia và quốc tế, đồng thời sau khi giành chính quyền sẽ xây dựng nền dân chủ, cộng hòa.
Sau đó, hai anh em quyết định lên Hà Nội, rồi phân công: Thi vào học trường Bưởi, Nghĩa vào trường Thăng Long. Thành ủy Hà Nội suốt mấy năm liền bị khủng bố, bí thư mới về chưa nóng chỗ đã bị đánh bật ra.
Cuối cùng, chúng tôi bắt liên lạc được đ/c Xuyện - cán bộ Ban Cán sự (em trai đ/c Trần Quang Huy, học sinh Thăng Long 1935-40). Thành ủy HN mới được khôi phục lại sau 6 lần bị đàn áp”.
Hai chàng trai cùng tham gia Thanh niên cứu quốc. Ngày 6/1/1942, khi đang rải và dán truyền đơn ở cửa trường Thăng Long và Gia Long để kỷ niệm ngày thành lập Đảng, ra mắt Việt Minh thì 2 anh em bị bắt cùng các đ/c Xuyện, Thường.
Đến tháng 6/1942, Thi được thả, số còn lại bị đưa ra Tòa án Binh. Tôi bị kết án 4 năm, anh Xuyện- 5 năm, anh Thường- 5 năm và bị đưa về giam ở Hỏa Lò cùng Xứ ủy viên Trần Đăng Ninh.
Đêm 11/3/1945, lợi dụng Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương, đ/c Trần Đăng Ninh leo tường vượt ngục cùng một số anh em (trong đó có Lê Trọng Nghĩa). Đêm hôm sau, 80 tù chính trị còn lại được đ/c Trần Tử Bình tổ chức trốn ra ngoài theo đường cống ngầm.
Ông Nghĩa kể tiếp: “Hôm sau, tôi tìm về trú nhờ nhà anh Trần Quảng Kiến (bạn trong nhóm học sinh Bonnal) tại 30 Triệu Việt Vương. Vài bữa sau, Nguyễn Đình Thi bấm chuông tìm gặp: “Tôi được “tổ chức” cử tới gặp anh. Anh tranh thủ về quê thăm các cụ rồi lên nhận nhiệm vụ”.
Anh đưa cho 20 đồng bạc Đông Dương cùng một thẻ căn cước giả đi đường. Sau khi từ Quảng Yên lên, tôi gặp đ/c Lê Đức Thọ và được giao nhiệm vụ cùng anh Vũ Quý sang Ban Cán sự của Dân chủ đảng (tổ chức đảng của các nhân sĩ, trí thức yêu nước) ở phía Bắc. Còn Nguyễn Đình Thi trước đã phụ trách báo “Độc Lập” của Dân chủ đảng, nay chuyển về hoạt động ở Hội Văn hóa cứu quốc...”.
Đầu tháng 8/1945, các anh trong Trung ương và Thường vụ Xứ ủy đều lên Việt Bắc, còn lại 2 ủy viên Thường vụ: Nguyễn Khang trực Hà Nội, Trần Tử Bình trực cơ quan Xứ ủy ở Vạn Phúc, Hà Đông.
Nguyễn Đình Thi được cử đi dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào. Còn tôi cùng các anh Trần Quang Huy, Nguyễn Quyết, Nguyễn Duy Thân tham gia vào UBKN HN do anh Nguyễn Khang làm Chủ tịch, anh Trần Đình Long làm cố vấn.
Tôi còn nhớ mãi cái không khí sôi động trong ngày 19/8/1945. Quần chúng nô nức kéo về Bờ Hồ. Khắp nơi hát vang bài “Tiến quân ca” (Văn Cao) và “Diệt phát xít” (Nguyễn Đình Thi).
Sáng đó sau cuộc mít-tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn, tôi theo chân anh Khang và anh Bình vào Bắc Bộ Phủ. Quần chúng cách mạng dũng mãnh vượt rào vào chiếm Phủ Khâm sai. Đ/c Trần Tử Bình cùng các chiến sỹ tự vệ, thanh niên xung phong tiến đến phòng làm việc của Nguyễn Xuân Chữ, cầm đầu “Ủy ban chính trị”.
Anh Bình lệnh cho tự vệ giải hắn về An toàn khu của Xứ, rồi yêu cầu quay máy cho tỉnh trưởng các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh thông báo ở Hà Nội, Việt Minh đã giành chính quyền và lệnh phải mau chóng giao chính quyền cho Việt Minh, nếu không sẽ bị xử tử.
Bên ngoài, quần chúng hạ cờ quẻ ly, giương cao lá cờ đỏ sao vàng nơi trung tâm hành chính của Bắc Bộ và cả nước. Đoàn biểu tình tiếp tục chiếm toà Thị chính, Kho bạc, Sở Cảnh sát Hàng Trống…”.
Giữa lúc đó, có tin báo cánh chiếm Trại Bảo an binh (đối diện rạp Majestic, nay là rạp Tháng Tám) do đ/c Nguyễn Quyết phụ trách đang gặp khó khăn. Quân Nhật cho xe tăng bít các ngả quanh doanh trại, chĩa súng vào quần chúng. Nhưng lực lượng ta kiên quyết không rời.
Hai ông Bình, Khang cùng ông Long hội ý gấp rồi cử Lê Trọng Nghĩa dùng chiếc xe Limouzine cắm cờ đỏ sao vàng, phóng ra thương thuyết với chỉ huy Nhật.
Chúng chấp nhận rút quân nhưng yêu cầu ta phải đến gặp Tư lệnh quân đội Nhật. Chiều hôm ấy, lực lượng cách mạng chiếm Trại không đổ một giọt máu và thu một kho vũ khí với hơn 1.000 khẩu súng.
Tối hôm đó, Thường vụ Xứ ủy cử ông Nghĩa và cố vấn Trần Đình Long đi gặp Tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật ở Đông Dương Tsuchihashi. Trước khi đi, ông Long chỉ dặn: “Chớ có động chạm đến việc quân đội Nhật đã đầu hàng Đồng minh hay bom nguyên tử đã nổ ở Hyrôsima hay Nagasaky”.
Cuộc gặp mặt mạo hiểm bắt đầu từ 8 giờ. Hai ông được dẫn vào phòng khánh tiết. Thấy trên tường treo lá cờ trắng mà ở giữa là mặt trời đỏ; tướng tá Nhật đứng xung quanh mặt lạnh tanh, súng gươm giắt đầy mình.
Hai ông chủ động chào hỏi rồi tự giới thiệu là đại diện của “cánh dân chúng nổi dậy chiếm Phủ Khâm sai sáng nay”. Như đã bàn bạc, ông Nghĩa lên tiếng: “Nghe tin Nhật Hoàng đã chấp thuận cho các ông rút quân về nước?”.
Vừa nghe 2 chữ “Nhật Hoàng”, nét mặt của đám tướng tá thay đổi hẳn. Sau đó, các nhà chức trách cao cấp Nhật bản xác định thái độ không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt, mặc nhiên thừa nhận nhà chức trách đương quyền tại Bắc Bộ Phủ. Ngay sau đó, Đại sứ Tsukamoto điện báo về Tokyo…
Như vậy trong ngày 19/8 đã kết thúc nhanh chóng việc chiếm các cơ quan đầu não chính trị, quân sự của chính quyền Khâm sai ở Thủ đô mà không có sự chống đối, xung đột nào, không phải nổ một phát súng, không phải mất một giọt máu; đồng thời đã ngăn chặn được cuộc can thiệp của đội quân Nhật, có nguy cơ dẫn đến xung đột vũ trang hoặc đàn áp quần chúng. Và, thắng lợi ở Hà Nội lập tức kéo theo sự rúng động làm tan vỡ hệ thống chính quyền ngụy ở Bắc Bộ.
“Và ngay trong đêm ấy, - ông Nghĩa tiếp lời - khi từ Đồn Thủy trở về, tôi thấy Thường vụ Xứ ủy cùng UBKN HN vẫn đang chong đèn họp. Và sáng hôm sau, ngay tại vườn hoa Con Cóc trước Bắc Bộ Phủ, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời của Bắc Bộ và Hà Nội chính thức ra mắt quốc dân đồng bào.
Có gì tự hào hơn khi ở độ tuổi hai mươi, chúng tôi đã được cùng đồng chí, đồng bào lật cuốn sử nước nhà sang một trang mới!”.
Kiến Quốc
Copyright (C) 2005 Tien Phong Online
Thứ Tư, 6 tháng 8, 2008
Chuẩn bị kỷ niệm 60 năm Thiếu sinh quân VN
Nhóm các cựu TSQ thời kì chống Pháp, chống Mỹ (trong đó có trường ta) và các nhà trường TSQ các quân khu, quân chủng... đã nhóm họp. Ban Liên lạc truyền thống các trường TSQ VN
khu vực Tp HCM được thành lập trong tổ chức Hội CCB VN TpHCM.Ý tưởng tổ chức kỷ niệm, hội thảo về công tác giáo dục đào tạo cán bộ cho LLVT thông qua các nhà trường TSQ vào dịp này trong phạm vi toàn quốc được đưa ra nhưng khó thực hiện. Những người đứng đầu (nhất là TCCT) không thật mặn mà(!). Vì vậy sẽ tổ chức trước mắt tại khu vực phía Nam, sau đó vào đầu năm 2009 sẽ tổ chức ở phía Bắc (lấy cơ sở là trường TSQ Quân khu I).
Nay thông báo cho anh
em!Tất nhiên, anh em phía Nam sẽ gánh trách nhiệm thay mặt trường ta cùng tham gia.
(Kính chuyển Ban Liên lạc phía Nam và Dương Minh).
Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2008
Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2008
Chuyến hành hương về cội nguồn
Là con của những cựu tù chính trị thời chống Pháp, chúng tôi mong có dịp thăm lại những nơi cha chúng tôi đã sống, chiến đấu và chiến thắng. Vào dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh, Liệt sĩ (27/7/2007) chúng tôi đã lên thăm Nhà tù Sơn La và gia đình LS-AHLLVT Lò Văn Giá.
Sơn La – hơn 60 năm trước là nơi “rừng thiêng nước độc”, nợi mà thực dận Pháp đã biến thành địa ngục trần gian để lưu đày, hành hạ, giết dần giết mòn cả thể xác lẫn tinh thần những người chống lại chúng. Giữa núi rừng Tây Bắc điệp trùng, hôm nay mọc lên 1 thị xã, tuy chưa thật rộng lớn, sầm uất nhưng những con đuờng mới mở, những công trình đang xây, cho thấy sẽ là 1 thị xã đẹp và thơ mộng trong tương lai.
Đây là khu di tích Nhà tù Sơn La, nơi cha chúng tôi đã từng bị thực dân Pháp giam giữ. Nhà ngục trên đỉnh đồi đã bị bom Pháp (1944) và bom Mỹ (1968) phá hỏng. Phần tường nhà giam nổi trên mặt đất chỉ còn 30-50cm; nhưng cũng đủ đề hình dung trong khuôn viên 2170m2 ấy đã có 49 phòng giam lớn nhỏ với các hình thù méo mó, dị dạng. Thời gian cao điểm nhất có tới 500 tù chính trị bị giam cầm tại đây. Đã được nghe kể nhiều về Nhà tù Sơn La nhưng khi tận mắt nhìn từng phòng giam và nghe những câu chuyện gắn với nó qua lời cán bộ thuyết minh của Bảo tàng mới thật xúc động.
Nhà tù Sơn La không chỉ nổi danh với chế độ hà khắc, những ngón đòn tra khảo tàn bạo, độc ác của bọn thực dận, là minh chứng sống cho ý chí bất khuất, nghị lực phi thường, niềm tin mãnh liệt của những chiến sĩ cộng sản lớp tiền bối mà hôm nay đây tên tuổi được lưu lại trên các đường phố của thị xã như Tô Hiệu, Trần Huy Liệu… mà còn được biết đến bởi cuộc vượt ngục có 1 không 2 như huyền thoại của 4 chiến sĩ cộng sản Trần Đăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu. Cuộc vượt ngục, xuyên rừng, lội suối, leo đèo ấy do anh thanh niên dân tộc Thái Lò Văn Giá dũng cảm đưa đường.
Chúng tôi dành nửa thời gian ở Sơn La đến thăm gia đình anh Lò Văn Thiện, con trai AH-LS Lò Văn Giá. Anh Thiện kể lại: Khi bố tôi đưa đường cho các bác ra tới nơi an toàn, khi trở về nhà thì bị Pháp phục bắt và xử bắn ngay. Lúc đó tôi mới 2 tháng tuổi, chị gái tôi (Lò Thị Liêu) khoảng 2 tuổi, nhà còn bà nội già yếu. Gia đình tôi đã từng rất khó khăn nhưng các bác chưa bao giờ quên chúng tôi. Tôi đã từng được Đảng, Nhà nước cho sang Liên-xô học về công tác Đoàn, rồi về làm việc ở Văn phòng Tỉnh uỷ. Nay cả 2 vợ chồng đã nghỉ hưu với lương hưu gần 3 triệu/tháng. Năm đứa con tôi đều được chính quyền chăm lo chu đáo, được tạo điều kiện học các trường phổ thông, trường dạy nghề. Cái khó là ở chỗ bây giờ yêu cầu nhiều tiêu chuẩn mà các cháu khó đáp ứng như vi tính, ngoại ngữ… cho nên chưa tìm được việc làm.
Trong không khí thân tình, anh Thiện chỉ vào ngôi nhà sàn bằng bê-tông kiên cố, khang trang và kể rằng đó là quà tặng của Tỉnh uỷ năm 1989. Gia đình có sửa lại cho đẹp hơn nhưng vẫn giữ dáng dấp bao đời của nhà sàn dân tộc Thái. Anh chị rót rượu mời chúng tôi cùng chúc cho nhau sức khỏe và may mắn.
Lưu luyến chia tay anh chị Thiện và các cháu, trong lòng thầm chúc cho các cháu sớm tìm được việc làm thích hợp.
Tháng 8/2007
Vân Mai - Quảng Nguyên
(BBT: Tháng 7/2007, các bạn k6 Tường Vân, Tuấn Quảng, Thắng “híp” đã du hành lên thăm Sơn La).
Thứ Tư, 23 tháng 7, 2008
Họat động tình nghĩa nhân 27/7
- BLLk6: Nam Điện k6 thông báo anh em k6 TpHCM sẽ đến thăm nhà LS Đặng Bá Linh, Chu Tấn Quang. Còn anh em phía Bắc đã lên kế họach thăm gia đình LS Nguyễn Tiến Quân, Mạnh Minh, Võ Nguyên Trọng.
- BLLk7: Các bạn vừa tìm thêm được gia đình LS Đặng Đình Kỳ, Nguyễn Đức Thảo và có kế họach đến thăm. Đã lên kế họach lên thắp hương cho Thảo trên Thái Nguyên rồi về thăm gia đình ở Hà Đông. Một cánh do Quyết Thắng sẽ thăm LS Lại Xuân Lợi ở Nam Định.
- BLLk1, k3 và k4 đã lên kế họach chưa? Xin được thông báo lên blog.
Các nhóm đi cố gắng ghi lại hình ảnh và post lên blog cho anh em!
Thứ Ba, 22 tháng 7, 2008
Cách mạng Tháng Tám qua hồi ức của một Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội
Nhớ ngày Tổng khởi nghĩa
Suốt chuyến bay từ TPHCM ra Hà Nội, tuy đã 85 tuổi nhưng ông vẫn hào hứng kể lại những ngày Tổng khởi nghĩa sôi động ở Hà Nội. Chuyện như mới xảy ra ngày hôm qua. Ông còn dí dỏm nói: “Sau ngày cách mạng thành công, có người hỏi chúng tôi: Các ông có xem ngày, chọn giờ hay không mà Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội lại thắng lợi nhanh, gọn đến vậy?”.
… Sau khi thoát ngục Hoả Lò, tháng 5-1945, ông được đ/c Lê Đức Thọ phân công sang Ban cán sự Đảng CSVN bên cạnh Dân chủ Đảng cùng đ/c Vũ Quý. Ban cán sự nhanh chóng nắm các nhân sĩ, trí thức, công chức, sinh viên, học sinh trong Dân chủ Đảng. Họ là những người yêu nước, sẵn sàng ủng hộ Việt Minh.
Đầu tháng 8-1945, hầu hết các đ/c trong Trung ương và Xứ uỷ được triệu tập lên Tân Trào. Riêng 2 uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ được phân công ở lại: Nguyễn Văn Đệ theo dõi Hà Nội, còn Phạm Văn Phu trực cơ quan Xứ uỷ, theo dõi 10 tỉnh đồng bằng Bắc bộ.
Không khí những ngày này sôi sục. Khi thăm dò anh em công chức Hà Nội, đã có ý kiến: nên khởi nghĩa vào ngày chủ nhật vì ngày đó các công sở đóng cửa, khi lực lượng cách mạng tấn công đánh chiếm thì lực lượng phòng vệ sẽ rất mỏng; mặt khác, anh em công chức ở nhà sẽ là lực lượng bổ sung ngay cho hàng ngũ cách mạng. Còn “giờ hành động” thống nhất ra sao khi không hề có phương tiện thông tin liên lạc trong tay? Lập tức có ý kiến: Đúng 10 giờ sáng, hệ thống còi gắn trên nóc Nhà hát Lớn, ga Hàng Cỏ, Nhà Tiền (nay là Nhà máy In Tiến Bộ) đồng loạt nổi lên. Loa chĩa bốn phương tám hướng, tiếng còi vang xa cả chục cây số, ở các quận huyện ngoại thành cũng nghe được. Như vậy có thể lấy tiếng còi tầm 10 giờ làm hiệu lệnh khởi nghĩa! Hai vấn đề này được báo cáo Xứ uỷ.
Thời kì đó, liên lạc phải thông qua Z.T (giao thông) chạy bộ, cùng lắm là đạp xe chứ không có điện thoại như bây giờ. Như vậy chỉ thị của Trung ương không thể trong ngày một ngày hai đến nơi mà phải mất cả tuần lễ. Mặc dù chưa nhận lệnh Trung ương, nhưng nắm chắc chỉ thị “Nhật-Pháp đánh nhau và hành động của chúng ta” và dựa vào thực tế cách mạng của Hà Nội mà Thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội gồm Chủ tịch Nguyễn Văn Đệ và 4 uỷ viên: Nguyễn Duy Thân, Nguyễn Huy Khôi, Nguyễn Quyết, Lê Ngọc cùng Cố vấn Trần Đình Long .
Thành ủy báo cáo về: Chiều 17-8 sẽ có cuộc mit-tinh của giới công chức ủng hộ “nền độc lập giả hiệu” của chính phủ Trần Trọng Kim, tổ chức ở quảng trường Nhà hát Lớn. Sáng đó, đ/c Đệ chỉ thị dùng lực lượng tự vệ phá mit-tinh, sau đó thì rút lui. Vậy mà buổi chiều, sau khi từ cuộc mit-tinh trở về An toàn khu ở làng Vạn Phúc (Hà Đông), đ/c phấn khởi báo cáo với Thường vụ: “Phải khởi nghĩa ngay. Thời cơ đến rồi!”. Chính cái không khí hừng hực, sục sôi của quần chúng cách mạng đã biến mit-tinh của giới công chức thành cuộc tuần hành, thị uy của quần chúng cách mạng. Quân đội Nhật cùng lính bảo an, cảnh sát không dám phản ứng. Chính thực tế cách mạng đã dạy cho người lãnh đạo phải hành động gấp!
Ngay trong đêm 17-8, Thường vụ Xứ uỷ quyết định chọn ngày chủ nhật 19-8-1945 là ngày Tổng khởi nghĩa.
Ông Nghĩa còn nhắc lại đêm mà Uỷ ban quân sự cách mạng triệu tập hội nghị cán bộ mở rộng ở Dịch Vọng (ngoại thành Hà Nội): “Hai ông Nguyễn Huy Khôi và Nguyễn Quyết chủ trì. Tôi đến chậm nhưng giữa cái không khí ồn ào nghe thấy giọng lanh lảnh của một nữ cán bộ trẻ, xinh xắn, mang dáng dấp của cô gái tỉnh lẻ: “Này, khi nào vào chiếm công đường, bắt bọn cầm đầu thì phải chú ý triệt ngay bọn lính dõng, bảo an. Nếu không chỉ vài phát súng nổ vào sau lưng quần chúng là tan hết…”. Đây là kinh nghiệm xương máu ở một huyện ở Bắc Ninh mà chị đã gặp. Đối với Uỷ ban quân sự cách mạng Hà Nội, đối với những ngưới chưa từng lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang thì đây là một lời cảnh báo hết sức quý báu”. (Sau này mới biết đó là bà Phan Thị Sang, em gái đ/c Phan Trọng Tuệ. Ít lâu sau, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Duy Thân. Đầu năm 1946, ông Nghĩa gặp lại 2 ông bà cùng là đại biểu khóa I của Quốc hội lập hiến).
Ngày 18-8, trụ sở Uỷ ban quân sự cách mạng chuyển vào nội thành, đóng tại số nhà 101 Gambetta (nay là 101 Trần Hưng Đạo).
Và sáng ngày 19-8-1945, đúng 10 giờ, sau hiệu lệnh còi kết thúc, cuộc mit-tinh tại quảng trường Nhà hát Lớn được bắt đầu. Ngay sau đó, hàng chục vạn quần chúng cách mạng chia làm 2 hướng, tấn công vào Phủ Khâm sai - cơ quan đầu não của chính quyền cũ và Trại Bảo an binh - nơi tập trung lực lượng quân sự mạnh nhất. Tại các quận, huyện ngoại thành, cũng sau “hiệu lệnh 10 giờ”, nhất loạt đánh chiếm các trung tâm hành chính.
Hà Nội đã biết vận dụng sáng tạo chỉ thị của Trung ương, dùng áp lực của quần chúng cách mạng có hỗ trợ của tự vệ vũ trang, kết hợp với đấu tranh chính trị, thương thuyết giành chính quyền về tay. Đến chiều 19-8, Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội đã thành công rực rỡ.
Tối 19-8, sau khi ông Lê Trọng Nghĩa cùng “ông cố vấn” Trần Đình Long đi gặp và thuyết phục Toàn quyền Nhật ở Đông Dương chấp nhận chính quyền nhân dân. Khi trở về, đã 12 giờ đêm. Đèn trong trụ sở vẫn sáng trưng. Thường vụ Xứ uỷ họp ra quyết nghị thành lập ngay và ra mắt chính quyền mới vào sớm hôm sau.
Những cái tên mới
“Chúng tôi nhận thức: ngày 19-8 là ngày khai sinh một đất nước hoàn toàn độc lập, không còn áp bức, không còn nô lệ, người dân được làm chủ, hoàn toàn tự do. Vậy thì mỗi công dân mới cần có những thay đổi! - Ông Nghĩa kể tiếp - Chúng tôi đã chọn cho mình cái tên mới: anh Nguyễn Văn Đệ chọn tên là Nguyễn Khang, anh Nguyễn Huy Khôi đổi là Trần Quang Huy… Tên tôi là Đoàn Xuân Tín và thường dùng danh “giáo sư Lê Ngọc” khi đi gặp cụ Phan Kế Toại và Thủ tướng Trần Trọng Kim, nay chọn tên Lê Trọng Nghĩa. Lê Trọng là tên của người thầy giáo đầu tiên của tôi (em ruột bác sĩ Lê Văn Cơ, Giám đốc bệnh viện Quảng Yên, sau này theo Việt Minh), thầy có tư tưởng tiến bộ, dân chủ và yêu nước nên có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của học sinh chúng tôi. Còn Nghĩa với ý là khởi nghĩa!”.
Ngay hôm sau, tại vườn hoa Con Cóc trước Dinh Khâm sai cũ, chính quyền cách mạng lâm thời ra mắt quốc dân, đồng bào. Đ/c Nguyễn Khang là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng Bắc bộ, Nguyễn Duy Thân phụ trách các cơ quan hành chính, Lê Trọng Nghĩa phụ trách đối ngoại. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng Hà Nội là đ/c Trần Quang Huy, uỷ viên là Phạm Tuấn Khánh...
Giới nhân sĩ, trí thức Hà Nội hết sức ngạc nhiên khi báo giới đăng tải tên tuổi của các vị lãnh đạo chính quyền mới. Họ đang chờ đợi những nhà lãnh đạo có tên tuổi như Dương Đức Hiền, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu… mà nay là những cái tên rất lạ! Thậm chí, Bác sĩ Trần Duy Hưng còn hỏi: “Vậy lãnh tụ của các anh là ai?”. Thật thú vị! (Thực tế lúc đó, Bác và Trung ương chưa kịp về đến Hà Nội).
Chuyện của 60 năm sau
Sáng ngày 18-8-2005, Thành uỷ và UBND TP Hà Nội tổ chức mít-tinh trọng thể tại Nhà hát Lớn, kỷ niệm 60 năm Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Ông Lê Trọng Nghĩa là một trong những vị khách mời đặc biệt. Được gặp lại những đồng chí cũ của những ngày này năm xưa, ông bùi ngùi nhắc tới những đồng đội đã ra đi. Lúc chia tay những người đồng đội già, tôi còn nghe thấy cái giọng tâm đắc của ông: “Có lẽ việc lựa chọn ngày, giờ khởi nghĩa do hợp với lòng dân mà chỉ trong đúng có một ngày, nhân dân Hà Nội đã đứng lên, giành chính quyền về tay, không phải nổ một phát súng, không bị tổn thất đổ máu!
Sau này nhìn nhận lại, giá chỉ chậm thời điểm Tổng khởi nghĩa lại nửa ngày thì không hiểu lịch sử sẽ diễn biến ra sao! Sáng hôm sau, 20-8-1945, lực lượng vũ trang của ta trên Thái Nguyên đã tấn công vào đơn vị đồn trú của Nhật. Vậy mà trước đó chỉ mấy tiếng đồng hồ, tướng Tsuchihashi - Tổng tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật - đã xác định thái độ “không can thiệp vào công việc của người Việt”, mặc nhiên thừa nhận nhà chức trách đương quyền tại Bắc bộ phủ. Coi như một việc đã rồi…
Ngày 19-8-1945 mở đầu một kỷ nguyên mới của nước Việt Nam độc lập, của một dân tộc được làm chủ chính mình và hoàn toàn tự do! Đúng như Lênin đã dạy “Cách mạng là sáng tạo!” và chính nhân dân Hà Nội đã dạy cho chúng tôi, những người lãnh đạo khởi nghĩa, biết phải làm gì!... Còn ngày nay, công cuộc đổi mới sẽ thắng lợi nếu chúng ta biết dựa vào dân!”.
Thứ Ba, 15 tháng 7, 2008
60 năm Cách mạng Tháng Tám, theo chân 1 nhân chứng lịch sử
Lần vào SG, anh Dương Trung Quốc trao đổi với anh em tôi về ý định tổ chức giao lưu truyền hình trực tuyến “60 năm: Những thông điệp từ quá khứ” vào dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Tám. Cái khó là trong chương trình phải thu xếp đón được cụ Lê Trọng Nghĩa, Ủy viên UBKNHN, 1 nhân chứng lịch sử, ra dự. (Tôi rất hiểu tâm tư và nguyện vọng của những người làm chương trình).
Vì ông già là 1 trong những người tham gia UBKNHN nên tôi tìm đọc các tư liệu rồi đi gặp gia đình các vị lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ngày ấy. Hầu hết các vị trong UBKNHN đã mất (Nguyễn Khang, Trần Quang Huy, Nguyễn Duy Thân, Trần Đình Long, Trần Tử Bình), tới hôm nay còn lại 2 cụ: Lê Trọng Nghĩa và Nguyễn Quyết.
Gặp cụ Nghĩa mới thấy tuy đã ngòai 80 nhưng rất bản lĩnh (cho dù chịu nhiều “va đập” của cuộc đời), rất tỉnh táo và có trí nhớ tuyệt vời (nhất là những con người và sự kiện Tổng khởi nghĩa ở HN). Từng có nhiều bài viết về cụ; lần này, tôi lĩnh trọng trách đón cụ. Ngày ấy, cụ sống trong TpHCM cùng vợ chồng Trọng Thắng. Anh em tôi đến mời cụ. Nhiều năm là cộng tác viên cho tạp chí “Xưa và Nay”, nhưng cụ vẫn có ý ngài ngại. Trong cuộc đời của cụ từng “có vết”, kiểu “trong 100 cái đúng của “tổ chức” thì có 1 cái sai, còn trong 100 cái sai của tôi thì có 1 cái đúng. Nhưng đau là cái sai của “tổ chức” lại trùng với cái đúng của tôi”. Cụ bà cũng can ngăn, e sợ… có chuyện không lành(!).
Hội thảo về Cách mạng Tháng Tám
Sát ngày đi, Trần Uy điện thọai rồi email vào, chỉ sợ không có cụ thì giao lưu trực tuyến sẽ thất bại. Cụ vẫn chưa quyết. Phải thuyết phục, cuối cùng cụ nhất trí với điều kiện: tôi phải tháp tùng suốt chuyến đi. Sáng 11/8 bay ra HN. Tình hình sức khỏe cụ tạm ổn. Tới Nội Bài, Trần Uy lên đón và giao kịch bản truyền hình cho cụ. Ông già Uy từng là Tổng biên tập báo QĐND nên rất biết cụ Nghĩa.
Mấy ngày trước, chương trình Thời sự VTV1 luôn giới thiệu về buổi giao lưu. Trần Uy còn nhờ lấy 1 số ảnh chân dung các cụ trong UBKNHN. Sáng 13/8, Hội Sử học tổ chức hội thảo “Cách mạng Tháng Tám và nhân vật lịch sử: Nguyễn Khang trong Tổng khởi nghĩa ở HN” tại Bảo tàng Cách mạng. Tôi đón cụ đến dự. Tại đây, cụ Nghĩa gặp nhiều đồng chí cũ như cụ Mười Hương, Nguyễn Quyết, Chu Huy Mân… Trong hội thảo, cụ có bài phát biểu về vai trò cá nhân đồng chí Nguyễn Khang trong UBQSCM.
Ngay sau hội thảo, tôi đưa cụ về 101 Trần Hưng Đạo, trụ sở của UBQSCM từ ngày 18/8/1945, để VTV1 ghi hình và phỏng vấn.
Giao lưu trực tuyến tối 17/8
Chiều, đưa 2 cô em vào Vạn Phúc, Hà Đông thắp hương cho Già Khương rồi mới tới nhà chú Sự, em ruột cụ Nghĩa, ở Nam Đồng. Xe Land Cruiser của VTV1 đón cụ, còn tôi phóng Matiz theo sau. Bàn tròn giao lưu trực tuyến chỉ có 4 người: Dẫn chương trình Trần Uy cùng 3 vị khách: Dương Trung Quốc (Hội Sử học), Nguyễn Sĩ Dũng (Văn phòng Quốc hội) và nhân chứng lịch sử Lê Trọng Nghĩa. Tôi ngồi ngòai cùng cụ Trần Quang (CCB Hoàng Diệu) và Thanh Lâm. Lần đầu tiên gặp Lâm có nhận xét: chú em thông minh và rất “prồ”.
8g, bắt đầu. Trên bảng trang trí là phông chữ “Giao lưu trực tuyến. 60 năm: Những thông điệp từ quá khứ” và ảnh của những vị lãnh đạo trong UBKNHN… Chi tiết thì mọi người đã xem. Xin chỉ nhắc lại tâm trạng người trong cuộc…
Biết những trăn trở của cụ, biết những lo lắng của gia đình và… sợ nhất lỡ có những bức xúc dồn nén suốt mấy chục năm qua, rồi biết đâu do bột phát không làm chủ được mà sự thật về số phận của cụ được nói ra trên diễn đàn… Tôi căng thẳng lắng nghe từng câu từng chữ mỗi khi có câu hỏi dành cho cụ. Có những lúc tim như thắt lại. Trần Uy bản lĩnh điều khiển chương trình trước những con người đầy kinh nghiệm trong giao lưu trực tuyến là anh Dương Trung Quốc và Nguyễn Sĩ Dũng. Thanh Lâm ngồi bên tôi thỉnh thỏang lại dùng micrôphone gài cổ “nhắc vở”. Còn cụ Nghĩa của chúng ta rất bản lĩnh, nói chính xác các sự kiện và nêu những chính kiến của mình. Phải nói không có điều gì “hở lưng”.
(Riêng anh Dương Trung Quốc có nhắc tới sự liêm khiết, trong sạch, gương mẫu của thế hệ đi trước, và điều này đã chạm lòng tự ái của ai đó. Ngay sau buổi phát hình đã “có ý kiến”?!).
Đúng là giao lưu trực tuyến không chỉ bó hẹp trong phạm vi cả nước, ngay lập tức trên trang Web của VTV1 có hàng nghìn câu hỏi (cả từ nước ngòai) lập tức gửi về: Các nhân vật được đưa ảnh lên phông là ai mà chúng tôi không biết? Ông Nghĩa là ai, có vai trò gì trong Tổng khởi nghĩa ở HN mà bây giờ lại lên làm nhân chứng?... Đại lọai nhiều câu hỏi “hóc”.
Kết thúc, Thanh Lâm mời tất cả ra khách sạn Giảng Võ ăn tối. Việt Trung em tôi cùng Hữu Việt cũng có mặt. Mọi người sôi nổi trao đổi quanh chủ đề giao lưu trực tuyến. Riêng Trần Uy ngay sau đó có “cú điện thọai chấn chỉnh”(?).
Mít-tinh kỷ niệm 19/8
Sáng 18/8, Ban Liên lạc Việt Minh Hòang Diệu mời cụ Nghĩa dự kỷ niệm trọng thể tại Nhà hát Lớn. Đến muộn khi tất cả đã ổn định, thấy cụ vào, ban tổ chức mời lên hàng ghế đầu... Kết thúc, các cụ trong Việt Minh Hoàng Diệu hồ hởi gặp nhau tại sảnh lớn. Cụ Nghĩa gặp lại bà Lê Thi (vợ cụ Hồng Hà, người cùng bà Hoàng Văn Thái kéo cờ trong lễ Tuyên ngôn Độc lập), vợ cụ Hoàng Minh Chính, vợ cụ Bùi Lâm, chị Hương (con cụ Nguyễn Khang)… Họ như sống lại ngày này 60 năm trước.
Vui hơn, khi các CCB gặp nhau, Thiếu tướng Nam Hà vẫy cụ Nguyễn Oanh: “Oanh, Oanh! Lại đây chụp ảnh cùng Lê Trọng Nghĩa!”. Tôi nhanh tay chớp được pô ảnh giá trị.
Xong xuôi công việc, thanh thản vô cùng! Cái lớn hơn - thấy được ở cụ Lê Trọng Nghĩa 1 trí thức cách mạng tài năng, bản lĩnh. Người ta sẽ lớn khi biết sống vì người khác!
Thứ Tư, 2 tháng 7, 2008
Nhân cách 1 con người
Nhưng để xuất bản được cuốn sách không phải việc đơn giản. Tác giả từng vào TpHCM gặp cụ Võ Văn Kiệt và ông đã nêu rõ chính kiến của mình trong 1 bài viết. 
Quay lại hơn 5 năm trước, khi Tướng Độ mất, nhiều anh em ta đã trăn trở.
Đúng dịp 5 năm ngày mất của ông, tôi hân hạnh được gia đình tặng cho kỷ niệm vô giá này. Đọc, ta sẽ hiểu hơn nhân cách người cộng sản chân chính - cả người viết và người được viết. Phải biết sống vì lẽ phải!
Xin giới thiệu suy nghĩ của chú Sáu Dân cùng bạn đọc!
Thứ Hai, 16 tháng 6, 2008
Từ nỗi đau của ông, Võ Văn Kiệt
| |
| Đồng chí Võ Văn Kiệt trong lần triển khai Nghị quyết Trung ương Đảng tại vùng căn cứ U Minh. Ảnh do ông Châu Ngọc Tiếp, nguyên trưởng tiểu ban Điện ảnh miền Tây Nam Bộ cung cấp |
Đầu năm nay, ông viết, “tôi có cảm giác như vợ và các con đang đợi tôi”. Bác sĩ riêng thời chiến tranh của ông, ông Huỳnh Hoài Nam, kể: “Trong suốt những năm ở trong rừng, ông luôn mang theo một tấm hình và hai bộ đồ của vợ”. Sau ngày 30.4, khi tình hình tạm ổn, ông đã tìm đến khúc sông ấy, đứng nhiều giờ để cố tìm xem, vợ và các con ông đang thực sự yên nghỉ ở đâu. Bác sĩ Nam nói: “Trên đường về, hàng giờ, ông không nói một lời nào cả”.
Sau khi nghe tin mẹ mất, con trai lớn của ông là Võ Dũng, sinh năm 1951, khi ấy đang cùng với em gái, Võ Hiếu Dân, sinh năm 1955, học ở Hà Nội, nằng nặc đòi được vào Nam. Trung ương có điện thoại cho ông. Ông đồng ý. Trong thâm tâm, ông cũng muốn có chút ruột rà máu mủ ở bên mình.
Võ Dũng là một thanh niên ngang bướng, làm lính cơ quan “Khu bộ” thì rất “ngứa chân, ngứa tay”. Dũng nói: “Con đâu phải vào đây để đào hầm cho ba”. Bác sĩ Nam tâm tình: “Dũng, em về đây làm gì?”. Dũng trả lời: “Chiến đấu”. “Em không thấy bọn anh cũng đang chiến đấu sao?”. “Có, nhưng cứ toàn chiến đấu trong xó không à”. Bác sĩ Nam đành phải nói lại với ông Kiệt. Ông đồng ý. Về đơn vị chiến đấu, Võ Dũng nhất quyết đòi phải được bổ vào bộ phận trinh sát. Sáu tháng sau, trong một lần trinh sát một đồn địch nằm trong vùng quê mẹ, Rạch Giá, Võ Dũng hy sinh. Năm ấy, anh chỉ mới vừa tròn 20 tuổi.
Không ai biết được ông đã chịu đựng mất mát ấy như thế nào. Trước ba quân, ông vẫn mạnh mẽ như không có chuyện gì. Nhưng, đêm về, bác sĩ Nam kể, thì nỗi cô độc không thể nào kể xiết. Ông lặng lẽ một mình, kêu bác sĩ Nam, “Cho tao ly chà và”, từ ông dùng để chỉ cà phê đen. Bác sĩ Nam nói: “Tôi đưa cà phê cho ông và biết, lại thêm một đêm ông không ngủ”.
Nhưng, theo bác sĩ Nam, “hình như trời đất vẫn còn ngó tới ông ấy”. Qua năm sau, 1972, Trung ương hội Phụ nữ điện vào báo cho ông là đã tìm được người con trai sinh năm 1952, Phan Thanh Nam. Đây là người con trai mà ông có được trong lần ra Bắc hồi năm 1951. Trở lại miền Nam, ông Võ Văn Kiệt kể: “Tôi nói hết với vợ. Bà ấy nghe, cũng buồn nhưng không trách móc gì. Bà ấy thỉnh thoảng lại nhắc, phải tìm được thằng Nam về”.
Mỗi lần cứ có người ra, ông Võ Văn Kiệt lại nhắn nhờ tìm Phan Thanh Nam. Năm 1972, bà Bảy Huệ, phu nhân của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, người năm 1959 đưa Võ Dũng và Hiếu Dân ra Bắc và chăm sóc, đã tìm được Nam về cho ông. Ngày cha con gặp nhau, ông đang ở một căn cứ gần kênh Biện Nhị, xã Khánh Lân, Cà Mau. Ông đợi con, lâu lâu lại hỏi: “Nó tới đâu rồi?”. Gặp nhau, bác sĩ Nam kể: “Hai cha con ôm nhau nửa tiếng, không nói một lời, rồi cả hai cùng khóc. Chúng tôi, cũng ra phía sau, ngồi khóc”.
Ông Võ Văn Kiệt kể: “Tôi kể cho Nam về vợ tôi. Nó nghe rồi nói, “con nhận mẹ của Hiếu Dân và anh Dũng làm mẹ”. Tôi cũng nói rõ với Hiếu Dân nhưng chủ yếu là để cho hai đứa hiểu nhau một cách tự nhiên. Tôi rất mừng, giờ tụi nó quý nhau lắm”. Sáng 15.6, khi đọc lời cảm tạ của gia đình, con trai ông, Phan Thanh Nam, đã không quên nhắc đến những người đã khuất: “Chúng con xin cám ơn Má, anh Hai và các em, đã vĩnh viễn ra đi trong cuộc chiến tranh, để lại tình thương yêu vô bờ bến”. Tôi đã không ít lần gặp chị Võ Hiếu Dân, người con duy nhất còn lại của bà Trần Kim Anh, hy vọng nghe từ chị những ký ức về mẹ mình. Nhưng, chưa bao câu chuyện có thể tiếp tục. Cho tới tận bây giờ, chị Hiếu Dân vẫn không thể nào cầm được nước mắt mỗi khi nhắc về mẹ.
Gần đây, ông đã có rất nhiều nỗ lực giúp đỡ việc tìm lại hài cốt của những người chết trong thời gian học tập cải tạo; gặp gỡ lãnh đạo hai địa phương, Bình Dương và TP.HCM để bàn về vấn đề nghĩa trang của những người lính Sài Gòn cũ. Mấy năm trước, khi cô cháu ngoại mang về cho ông mấy cuộn phim do người Việt ở nước ngoài làm về những thuyền nhân vượt biên trong những năm sau 1975, ông xem, xúc động và có rất nhiều trăn trở.
Khi ông nói, “yêu nước có thể bằng nhiều con đường”, là ông nói bằng chính từ nỗi đau của mình. Không phải ngẫu nhiên mà ông nhấn mạnh: “Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”.
Từ năm 1995, ông đã kiến nghị: “Trên chặng đường mới này của đất nước, hơn bao giờ hết cần giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ”. Trong buổi làm việc cuối cùng, chiều 23.5, ông nói với tôi về ý định sẽ viết chung một cuốn sách với một người đã từng là quan chức cao cấp trong chế độ Sài Gòn. Ông coi đó như là một biểu tượng của tinh thần hoà giải. Năm 1997, khi vừa nhận chức, trong một cuộc phỏng vấn dành riêng cho tôi, Thủ tướng Phan Văn Khải nói: “Về bản lĩnh chính trị, tôi không thể nào so sánh với đồng chí Võ Văn Kiệt”.
Từng là một nhà lãnh đạo chiến tranh xuất sắc, đúng như lời Thủ tướng Phan Văn Khải, ít ai có thể so sánh bản lĩnh chính trị với ông. Tuy nhiên, bản lĩnh chính trị của Võ Văn Kiệt không phải là những giá trị giáo điều. Chính trị “tối cao” đối với ông là “Dân”. Điều gì có thể đoàn kết mọi người dân Việt Nam. Điều gì có thể nhanh chóng đưa lại cơm no áo ấm cho mọi người Việt Nam là ông chủ trương. Ông Võ Văn Kiệt đề nghị “giương cao ngọn cờ dân tộc” không phải từ một ý tưởng xuất hiện tình cờ. Ông đúc kết điều đó qua sự trải nghiệm bằng máu của chính ông, của những đứa con, của người vợ mà ông vô cùng yêu dấu.
Huy Đức
Thứ Tư, 4 tháng 6, 2008
Thông báo họp Ban LL Trường
Mời các anh chị trong Ban LL Trường (phía Bắc) ở các khoá và C11 dự họp Ban LL Trường vào 15h ngày Chủ Nhật 8/6/2008 tại 281 Đội Cấn, Hà Nội (nhà hàng Vườn Treo Pacific).
Nội dung bàn về các việc liên quan tới An Mỹ, Đại Từ và sách ảnh kỉ niệm 45 năm Trường NVT, và một vài nội dung thường kì khác.
Các anh chị trong Ban LL các khoá và C11 lưu ý thông báo, cử đại diện của mình đến họp Ban LL Trường đầy đủ.