Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Tư, ngày 13 tháng 10 năm 2010

Chuyện bền lề... (Duơng Minh)

1 / 2
1
2
1 / 2
1
2

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 1 năm 2010

CHÚC MỪNG NĂM MỚI





Mới đi chơi về có mấy cái bông gởi Quế chưng tết.

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 2 năm 2009

THẦY GIÁO HOÀNG ĐẠO THÚY - TỪ "HƯỚNG ĐẠO SINH" ĐẾN VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN

Ngày 15-4-1946, theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, trường Cán bộ Việt Nam mà tiền thân là Quân chính kháng Nhật được đổi thành Võ bị Trần Quốc Tuấn, thực hiện đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng. Do yêu cầu, Người đã bổ nhiệm đ/c Hoàng Đạo Thuý, một nhà giáo yêu nước, nguyên Trưởng phòng thông tin (Bộ Tổng Tham mưu) làm Hiệu trưởng.

Sinh năm 1900 trong một gia đình nho học, khi lớn lên Hoàng Đạo Thúy đã chọn cho mình nghề sư phạm. Xách chiếc va-ly với vài bộ quần áo và chục quyển sách, ông đi dậy học khắp nơi. Khi thì lên rừng, lúc lại xuống biển, đến đâu ông cũng tìm hiểu nhân tình thế thái, tìm hiểu lịch sử dân tộc. Năm 1929, học tập phương pháp rèn luyện của thanh niên phương Tây, ông đã cùng những người bạn đồng chí hướng thành lập “Hội hướng đạo Việt Nam”. Những ngày dã ngoại xa thành phố, những đêm quây quần bên lửa trại, những chuyến xuyên rừng sâu tập tìm phương hướng, hay những bài tập thông tin đánh “moóc-xơ”… đã khơi dậy lòng yêu nước và tạo dựng bản lĩnh sống trong giới thanh thiếu niên trí thức. Thực dân Pháp và cả phát xít Nhật cố lôi kéo ông phục vụ cho ý đồ của chúng, nhưng ông đã khéo đối phó, cố gắng duy trì hoạt động của Hội, đến những năm 40 Hội có tổ chức rộng khắp Đông Dương. Trong số những tráng sinh ngày ấy nhiều người sau này đã trở thành những cán bộ cốt cán như Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Dương Đức Hiền, Vũ Quý… Những năm 40, ông về dậy học ở Hà Nội, đây là dịp để có thể nghiên cứu sâu về Thăng Long – Đông Đô, về lịch sử cha ông ta đánh giặc.

Năm 1943, các đ/c Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh đã cố gắng tiếp cận ông, nhưng không thành do mật thám Pháp theo dõi ráo riết. Sau này, đ/c Vũ Quý đã tiếp xúc được với ông, hướng phong trào đi theo đường lối của Việt Minh. Tháng 6-1945, chính phủ Trần Trọng Kim định mời ông làm Bộ trưởng Thanh niên, ông từ chối. Trong những ngày sôi sục của Cách mạng Tháng Tám, ông được mời lên Tân Trào dự Quốc dân đại hội. Tại đây, ông đã được gặp Hồ Chủ tịch và các đ/c Trường Chinh, Phạm Văn Đồng… cùng những nhân sĩ, trí thức tiêu biểu. Gắn đời mình với Cách mạng, với trách nhiệm của người trí thức, với kinh nghiệm hoạt động hướng đạo và uy tín của Tổng ủy viên, ông đã vận động đông đảo anh em hướng đạo sinh, tráng sinh và đồng nghiệp tham gia Việt Minh, củng cố chính quyền non trẻ ở các cấp. Sau 2-9-1945, đ/c Võ Nguyên Giáp đã giao cho ông nhiệm vụ tổ chức thông tin liên lạc cho cả nước và ông đã trở thành người lãnh đạo đầu tiên của binh chủng Thông tin.

Khi nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng trường Võ bị, Hoàng Đạo Thúy đã đưa cả vợ con lên phục vụ nhà trường. Ngày khai giảng, 25-6-1946, Cụ Hồ cùng các đại biểu đã trực tiếp đi thăm nơi ăn, chốn ở của bộ đội. Tới bếp ăn, thấy anh em ăn thừa cơm, Cụ Hồ đã phê bình là lãng phí của nhân dân. Tiếp thu ý kiến của Người, ngay hôm sau, bà Thúy đã có sáng kiến lấy cơm sạch còn thừa chế biến làm tương ăn cho bộ đội. Với trình độ sư phạm và kiến thức lịch sử cùng kinh nghiệm tổ chức hướng đạo, Hiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đã cùng Chính trị ủy viên Trần Tử Bình và các đ/c Vương Thừa Vũ, Vũ Lập, các cán bộ, giáo viên kết thúc đào tạo khóa huấn luyện dài hạn đầu tiên một cách xuất sắc. Ngày 8-12-1946, gần 300 học viên ra trường đã bổ sung ngay cho các đơn vị, hưởng ứng lời kêu gọi “toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch.

Đến khóa 3, ông lại được chỉ định làm Hiệu trưởng, còn đ/c Lê Đình làm Chính trị viên. Trong khóa học này, tất cả cán bộ, học viên đều không quên được kỷ niệm – thầy Hoàng Đạo Thuý được kết nạp vào Đảng. Đó là ngày 1-5-1947, lễ kết nạp được tổ chức tại cơ quan Tỉnh ủy Bắc Cạn, ngay trong rừng. Đ/c Hoàng Văn Thái, đại diện cho Đảng ủy quân sự Trung ương, đã về dự; 2 đ/c Nguyễn Văn Bồng và Triệu Huy Hùng được phân công giúp đỡ đảng viên dự bị. Đặc biệt hơn, trong số học viên khóa 2 và 3 ngày ấy có cả đ/c Hoàng Đạo Hùng là con trai của ông.

Để thống nhất trong công tác đào tạo, khóa 2 sau khi kết thúc ở Khu Bốn đã hành quân ra Bắc Cạn hợp nhất cùng khóa 3 vào ngày 10-9-1947. Khi sắp kết thúc huấn luyện thì giặc Pháp nhẩy dù xuống thị xã Bắc Cạn, gần khu vực đóng quân của trường. Ngày 9-10-1947, nhà trường được biên chế thành trung đoàn E79 do thầy Thúy là trung đoàn trưởng. Trung đoàn đã tổ chức đánh thắng 2 trận Đầm Hồng và Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch tại Bản Thi. Và trong lễ bế giảng tại đình Nghĩa Tá, ngày 28-10-1947, do thành tích học tập và chiến đấu, thầy trò Võ bị khóa 2 và 3 đã vinh dự được Bác Hồ tặng cho 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.

Năm 1966, cụ nghỉ hưu và về với căn nhà nhỏ của tổ tiên để lại ở làng Đại Yên (Hà Nội). Với tình yêu quê hương đất nước, với kinh nghiệm của những ngày tháng rong ruổi dậy học và tham gia cách mạng, với trình độ uyên thâm về lịch sử, cụ đã tranh thủ viết sách. Cụ đã để lại cho đời nhiều cuốn sách quý như “Trai nước Nam làm gì” (1943), “Nghề thầy” (1944), “Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội” (1960), “Phố phường Hà Nội xưa” (1974), “Đất nước ta” (1989)…vv.

Hàng năm, cứ ngày mồng 3 Tết, các cựu cán bộ, học viên Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1,2,3 và anh em hướng đạo sinh cùng bạn bè cũ đã đến chúc Tết thầy. Đầu Xuân 1993, đ/c Đỗ Mười và đ/c Lê Quang Đạo đã đến mừng thọ cụ 93 tuổi. Đúng như những gì về cuộc đời mà cụ đã tổng kết “dậy học 28 năm, làm hướng đạo 15 năm, vào bộ đội 20 năm, cả đời yêu nước, làm việc gì cũng vì nước” và thầy luôn tâm đắc “quãng đời trong quân đội là quãng đời hạnh phúc nhất”. Khi thấy mình đã yếu lắm, cụ yêu cầu đ/c Phan Phác (nguyên cán bộ Tổng đội học viên khóa 2 và 3) treo lên phía cuối giường 2 lá cờ “Trung với nước, Hiếu với dân” của Võ bị khóa 1 và “Trung dũng, Quyết thắng” của Võ bị khóa 2 và 3 để cụ được nhìn lần cuối, để nhớ đến Hồ Chủ tịch kính yêu và những đồng đội thân thiết của mình. Sau ngày cụ mất, lục dưới gối đầu giường, gia đình tìm thấy một tờ giấy đã thấm mồ hôi, ngả mầu vàng có ghi lại bài thơ “Ngủ quên” cụ làm trước đó 1 năm:

Gió thoảng, trăng trong, buổi mát trời/ “Ngủ quên, không dậy” việc thường thôi!/ Các con chớ giận không từ biệt/ Cháu nhớ ông bà ngày tháng trôi/ Cái chính chỉ là một lời dặn:/ “Giữ lòng trung hậu ở trên đời”/ Nhớ thương ghi tạc tình cao cả/ Tổ quốc bền lâu với đất trời! - Xuân 1994

Và có một điều không phải ai cũng biết, cụ chính là bố vợ của giáo sư Tạ Quang Bửu, cố Bộ trưởng Bộ Đại học của chúng ta và bà Oanh – vợ giáo sư – chính là người đã cùng mẹ lên trường Võ bị phục vụ bộ đội trong những ngày đầu tiên tại thị xã Sơn Tây năm 1946. Tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, suốt đời phục vụ nhân dân và cuộc đời thanh bạch, giản dị của thầy Hoàng Đạo Thúy sẽ sống mãi trong lòng người dân Việt Nam!

Thứ Tư, ngày 11 tháng 2 năm 2009

NGÀY XUÂN KỂ CHUYỆN TƯỚNG HOÀNG SÂM TIỄU PHỈ

Là thế hệ con cháu nhưng tôi có một ước mơ ghi lại tư liệu về những vị tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội. Theo sách vở, đầu năm 1948, Bác Hồ ký quyết định tấn phong quân hàm đại tướng cho đ/c Võ Nguyên Giáp, trung tướng cho đ/c Nguyễn Bình và thiếu tướng cho 9 đ/c: Hoàng Văn Thái, Nguyễn Sơn, Văn Tiến Dũng, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Lê Hiến Mai, Trần Tử Bình và Trần Đại Nghĩa. Cuộc đời “các lão tướng” thật vẻ vang và đáng kính trọng! Nhân dịp Xuân mới Quý Mùi, xin kể lại chuyện tướng Hoàng Sâm tiễu phỉ ở vùng biên giới Việt-Trung đầu những năm của thập kỷ 40.
Đ/c Hoàng Sâm tên thật là Trần Văn Kỳ sinh năm 1915 tại Lệ Sơn, Tuyên Hóa, Quảng Bình. Năm 12 tuổi đã đựơc giác ngộ cách mạng và được chọn sang Thái Lan học tập. Tại đây anh trở thành liên lạc cho Bác Hồ mới từ châu Au về. Năm 1933, đựoc kết nạp vào Đoàn rồi vào Đảng. Đầu 1937, từ Trung Quốc về nước tham gia Tỉnh uỷ Cao Bằng, sau đó anh trở lại Quảng Đông dự học một trường quân sự thân Tưởng. Mùa Đông 1940, anh được gặp lại Bác Hồ cùng các đ/c Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp.
Ngày 8-2-1941, Bác Hồ từ Trung Quốc về Pắc Bó (Cao Bằng). Trong chuyến hành hương đó, đ/c Hoàng Sâm cùng các đ/c Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp… đã bảo vệ Người trở về nước an toàn. Tháng 5 năm đó, Hội nghị Trung ương 8 họp tại đây quyết định nhiều vấn đề quan trọng và bầu đ/c Trường Chinh làm Tổng bí thư. Cuối năm đó, đội du kích đầu tiên của Cao Bằng được thành lập gồm 12 chiến sĩ do đ/c Lê Thiết Hùng làm đội trưởng, Lê Quảng Ba làm chính trị viên và Hoàng Sâm là đội phó. Đội có nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ, bảo vệ Bác, tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng và tiễu phỉ trừ gian ở vùng biên giới. Từ giữa 1942, đ/c Hoàng Sâm thay đ/c Lê Thiết Hùng đi “Nam tiến”.
Lợi dụng điều kiện xã hội phức tạp và địa lý hiểm trở ở vùng biên giới mà nhiều toán phỉ có vũ trang đã cướp bóc, giết chóc gây nhiều khó khăn cho cuộc sống bà con các dân tộc. Đã khổ vì quan Tây, quan Châu áp bức nay lại phải chịu “nạn phỉ “. Nếu không dẹp được “nạn phỉ” thì sẽ khó mà động viên bà con ủng hộ và tham gia cách mạng. Từ năm 1939, Châu uỷ Hà Quảng đã phát động dân lập Hội chống phỉ với sách lược kiên quyết trừng trị đi đôi với giáo dục thuyết phục những người nghèo lầm lạc theo phỉ trở về với nhân dân. Nhưng việc thuyết phục những tóan phỉ lớn không phải dễ dàng. Chúng rất đông, nhiều súng và hoạt động rất tàn bạo. Những tên trùm phỉ sống ngang tàn kiểu “anh hùng hảo hán” nhưng rất kính nể những người can đảm, tài ba. Trong số đó có anh em Voòng A Sáng, Voòng A Sính, có Châu Slam Tha (Châu “ba mắt”), Lỳ Síu…
Đ/c Hoàng Sâm còn có tên Trần Sơn Hùng nổi tiếng cả vùng Cao Bằng là người gan dạ “đánh Đông dẹp Bắc”, bắn súng bằng 2 tay “bách phát bách trúng”, phi ngựa thì như kị sĩ, nói tiếng Quảng thì như người Hoa. Bọn trùm phỉ nghe danh rất kiêng nể nhưng lại rất thích thi gan, đọ tài với cán bộ cách mạng. Một lần, tên Lỳ Síu kéo quân đến cửa hang Pắc Bó đòi gặp ông Trần và ông Lê. Vừa trông thấy Trần Sơn Hùng với tác phong oai phong khoanh 2 tay trước ngực, súng “pặc-khoọc” đeo lệch một bên vai, con dao quắm đi rừng dắt bên hông, hắn vội cúi đầu chào và có lời mời 2 cán bộ uống rượu đến say rồi thi bắn súng, ném lựu đạn. Quả như lời đồn, gan và tài của ông Trần có một không hai – cho dù đã ngấm hơi men nhưng không cần ngắm, nâng súng sáu vẩy đâu trúng đó - đã khuất phục Lỳ Síu.
Nắm được đặc điểm những tên trùm phỉ vốn là gốc Hoa rất trọng đồng hương, đồng họ, đồng môn, đồng niên… nên đ/c Hoàng Sâm đã thân chinh cưỡi ngựa vào tận sào huyệt bọn phỉ Voòng A Sáng thuyết phục chúng hòa hoãn. Biết tiếng từ lâu nay mới “hội ngộ” lại thấy ông cùng họ (Hoàng phát âm theo tiếng Quảng Đông là Voòng, Hoàng Sâm là Voòng Sám) nên trùm phỉ hết sức quý trọng mở tiệc chiêu đãi. Trong bữa tiệc, Voòng A Sáng mời Hoàng Sâm uống rượu nhắm với “não hầu” (óc khỉ sống) và đề nghị kết nghĩa huynh đệ. Nhờ hành động rất kiên quyết nhưng lại khôn khéo mà các đ/c đã hạn chế được sự phá phách, cướp bóc của bon phỉ, làm cho nhân dân thêm tin tưởng ở cách mạng. Vì vậy số hội viên cứu quốc theo Việt Minh ngày càng đông. Từ giữa 1943, phong trào cách mạng phát triển và tiến dần về xuôi. Đội du kích Cao Bằng phân tán mỗi người một nhiệm vụ. Đ/c Hoàng Sâm được giao nhiệm vụ tổ chức đội bảo vệ các đội xung phong Nam tiến. Ngày 22-12-1944, đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Sam Cao, Nguyên Bình, Cao Bằng, đ/c được cử làm đội trưởng. Sau 2 chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, đội phát triển thành đại đội, đ/c được cử là C trưởng. Ít lâu sau, từ đại đội phát triển thành chi đội (tương đương tiểu đoàn) đ/c lại được cử làm chi đội trưởng.
Theo chân Bác, trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đ/c đảm đuơng các nhiệm vụ Chỉ huy trưởng mặt trận Tây tiến (1947), Chỉ huy trưởng khu 3 (1948), Đại đoàn trưởng 304 (1952-54) và Tư lệnh quân khu 3 cho đến ngày hy sinh tại mặt trận Trị Thiên (15-12-1968).
Cuộc đời tướng Hoàng Sâm là tấm gương sáng cho thể hệ trẻ noi gương và học tập!

Thứ Hai, ngày 09 tháng 2 năm 2009

BÀI THƠ TÌNH CỦA NGƯỜI LÍNH THAM GIA 2 TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ

Một ngày đầu xuân Giáp Thân, chúng tôi hân hạnh được mời đến dự liên hoan sinh nhật thứ 80 của Thiếu tướng Chuẩn đô đốc Trần Văn Giang. Từng cùng đồng chí Nguyễn Quang Bích đưa 114 cán bộ sang Trung Quốc đầu năm 1953 học chỉ huy pháo phòng không tại Trường sĩ quan Pháo cao xạ Thẩm Dương, trở về nước trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử 1954 ông là Phó chính uỷ trung đoàn 367 (đơn vị pháo cao xạ phòng không đầu tiên) tạo ra “lưới lửa Điện Biên phủ” bắn rơi nhiều máy bay và cắt đứt "cầu hàng không" của quân đội Pháp. Trong chiến tranh chống Mỹ ông lại là Chính uỷ sư đoàn 361 phòng không bảo vệ bầu trời Hà Nội trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" 1972, hạ nhiều pháo đài bay B52 của giặc Mỹ. Sau này ông còn là Chính uỷ quân chủng Hải quân. Thật cảm động khi thấy những đồng đội của ông râu tóc bạc phơ nhưng vẫn lên ngâm những bài thơ viết về bạn, cùng hát tập thể những bài ca được sáng tác từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Cũng lần đó tôi được ông tặng cho bài thơ “Chim nhạn”.

x

Cuối tháng 4-1949, Văn Giang – Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 121 đóng quân ở Thái Nguyên xin phép về Yên Thế (Bắc Giang) cưới vợ. Cho dù đang trong những ngày gian khó của kháng chiến chống Pháp nhưng cuộc sống vẫn vận hành theo đúng quy luật! Trong buổi tiệc mừng tân hôn có Chính ủy trung đoàn Phạm Ngọc Mậu về dự. Thông cảm với cán bộ và thương cho đôi vợ chồng trẻ, ông tuyên bố: “Cho Văn Giang nghỉ phép 15 ngày bắt đầu từ hôm nay”. Hai vợ chồng nghẹn ngào hạnh phúc, còn gia đình và bà con cô bác thì thầm cảm phục cách xử sự có tình, có lí của bộ đội Cụ Hồ.

Mới nghỉ được 3 ngày thì có lệnh của Bộ gửi về: Văn Giang phải có mặt ở đơn vị để tập trung đi dự lớp “Rèn cán, chỉnh quân”1. Đúng là “chưa bén hơi vợ” nhưng đã là người lính thì “có lệnh là đi”, Văn Giang chia tay vợ khoác ba-lô lên đường. Lớp học ở Xoi Mít (Phúc Trìu, Thái Nguyên) do Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng 2 thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Trần Tử Bình trực tiếp chỉ đạo. Sau hơn 1 tháng học tập, thiếu tướng Văn Tiến Dũng - Chủ nhiệm Chính trị cục (tiền thân của Tổng cục Chính trị) đọc quyết định rút Văn Giang từ đơn vị về Chính trị cục. Hiểu được tâm trạng của chàng trai xa vợ mới cưới, tướng Trần Tử Bình đề nghị với Chủ nhiệm: “Văn Giang mới cưới vợ được 3 ngày, do nhiệm vụ nên tập trung đi học ngay. Anh Mậu đã đồng ý cho Văn Giang nghỉ phép 15 ngày. Học xong rồi, đề nghị anh cho Văn Giang nghỉ phép nốt 12 ngày rồi về Cục công tác”. Nghe vậy tướng Dũng cười: “Đang có việc đột xuất cần Văn Giang về ngay. Xong đợt này, tôi sẽ cho Văn Giang đi phép”.

Nhưng rồi công tác dồn dập, việc nối tiếp việc mà 4-5 tháng sau Văn Giang vẫn chưa có lúc nào rảnh để đi phép. Dù bận rộn nhưng trong lòng không vơi nỗi nhớ. Trong một đêm sương giăng kín đầy trời trên vùng rừng núi của chiến khu Việt Bắc, trăng khuyết khi mờ khi tỏ, nghe vẳng đâu đây tiếng chim nhạn làm Văn Giang thêm nhớ người vợ trẻ. Dưới ánh đèn dầu, anh lấy giấy bút ra cặm cụi viết:

Tiếng nhạn đêm sương nghe buồn da diết

Ngọn đèn khuya tha thiết mắt chờ mong

Chày giã gạo bập bùng vừng trăng khuyết

Gió xạc xào cây lá ngẩn ngơ trông


Anh lỡ hẹn mấy tuần trăng không gặp

Đêm đêm nghe con chim nhạn gọi đàn

Anh ao ước biến mình thành chim nhạn

Sai trời mây bay đến đậu bên em

Bài thơ “Chim nhạn” được gửi tới tay người vợ trẻ.

x

Như một vật chứng lịch sử, bài thơ đã theo gia đình suốt 55 năm qua, đã chứng kiến những tháng ngày gian khó của kháng chiến Chín năm, rồi 20 năm đánh Mỹ và những năm tháng xây dựng đất nước thống nhất. Không chỉ viết một bài thơ tình lãng mạn mà tranh thủ những khoảnh khắc ngưng tiếng súng, hay lúc nhàn rỗi trong thời bình, ông vẫn viết. Cho đến đầu năm 2000, tướng Văn Giang sắp xếp lại những bài thơ suốt nửa thế kỷ qua và cho xuất bản tập thơ “Con Tằm” với một ý nguyện giản dị - tặng bè bạn thân hữu và lưu lại cho con cháu.

Trong đám đồng đội cũ, ông bạn Đỗ Văn Phúc2 cũng nhận được một cuốn từ “nhà thơ”. Trái tim người lính già từng thổi ac-mô-ni-ca “địch vận” trên đồi C1 trên chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa thực sự rung động trước hàng chục bài thơ lãng mạn, nhất là bài “Chim nhạn”. Đầu xuân Giáp Thân, với máu nghệ sĩ của người lính, ông lấy giấy bút ra hí hoáy phổ nhạc. Và trong buổi tiệc trà mừng thọ bạn Văn Giang vào tuổi 80, ông đã cùng bác sĩ trẻ Hồng Sơn (con rể “nhà thơ”) song ca tặng vợ chồng Văn Giang ca khúc trữ tình mang hơi ấm nồng nàn của mối tình lãng mạn của anh lính Cụ Hồ cách đây đã hơn nửa thế kỷ.

Thế hệ trẻ chúng tôi thật cảm phục trí tuệ đầy văn hoá của lớp ngừơi đi trước!

Thứ Năm, ngày 05 tháng 2 năm 2009

CÒN TẾT


Tết SG có nhiều đội lân. Họ thực sự là những "nghệ sĩ đường phố". Theo quan niệm lân đến nhà sẽ mang lại may mắn cho gia chủ, "Lân" có thể múa và leo lên đến đỉnh cột tre đớp lấy những đồng tiền thưởng. Múa lân mang lại sôi động cho không khí tết và tiền thưởng cũng là xứng đáng với công lao động và tài nghệ của họ bỏ ra . Các bạn hãy nghìn đôi bàn chân đen thui của "nghệ sĩ" mới thấy hết sự lam lũ, vất vả của họ.



































Hoa bò cạp nước

Lớp “Rèn cán chỉnh quân” và vụ gián điệp ảo “Hát xăng-vanh-đơ”

Xin trích hồi ức của Thiếu tướng Chuẩn đô đốc Hải quân Trần Văn Giang để chúng ta hiểu thêm những ấu trĩ ban đầu của quân đội.


Tháng 5 năm 1949, Bộ mở lớp “Rèn cán khóa I” (gọi tắt của lớp “Rèn luyện cán bộ” lúc ấy). Hơn 100 cán bộ trung, tiểu đoàn, một số cán bộ quân khu, một số cán bộ tương đương ở các cơ quan Bộ được cử về học. Yêu cầu mỗi học viên chỉ được mang theo một súng trường và một ba-lô (anh em lúc bấy giờ gọi đùa là trường “quan to, súng dài”). Có vài đồng chí từ Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Bình Trị Thiên và hai đồng chí từ Thượng Lào về dự. Học viên được biên chế thành từng tiểu đội, có tiểu đội trưởng và phó. Ba, bốn tiểu đội thành một trung đội, có đủ trung đội trưởng, trung đội phó và chính trị viên; tất cả nằm trong một đại đội có đại đội trưởng, đại đội phó và chính trị viên.
Lễ khai giảng ngắn gọn, trang nghiêm, rất vui vẻ và ấn tượng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và mấy cán bộ trong Bộ Quốc phòng đến dự. Anh Võ Nguyên Giáp tạo cho lễ khai mạc trang nghiêm cái không khí thân vui. Anh nói rất ngắn gọn nhưng rõ ràng về mục đích, ý nghĩa quan trọng của cuộc “Vận động rèn luyện cán bộ, chấn chỉnh quân đội” trước đòi hỏi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày càng gay go quyết liệt. “Bộ yêu cầu nhà trường tích cực rèn luyện cán bộ, đồng thời Bộ cũng yêu cầu các đồng chí cán bộ tích cực tham gia rèn luyện mình”. (Nghe đến đây, chúng tôi vỗ tay hưởng ứng nhiệt tình). Đại tướng lại vui vẻ tiếp lời:
- Thể hiện quyết tâm rèn luyện cán bộ của Bộ, tôi – Võ Nguyên Giáp - sẽ trực tiếp làm Hiệu trưởng kiêm Chính ủy. (Vỗ tay dài). Thiếu tướng Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Hiệu phó. (Vỗ tay dài). Thiếu tướng Trần Tử Bình, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó tổng Thanh tra quân đội, làm Phó chính ủy. (Lại vỗ tay dài ).
Đến đây anh Võ Nguyên Giáp vui vẻ hỏi to:
- Rõ chưa ?
Tất cả chúng tôi hoan hô vỗ tay rào rào kèm theo tiếng hô to: “Rõ ạ !”. Anh lại tươi cười hỏi tiếp:
- Được chưa ?
Không ai bảo ai, chúng tôi đứng bật dậy, lại vỗ tay tiếp, kèm theo những tiếng kêu to, hưởng ứng tự đáy lòng:
- Được ạ ! Được ạ ! Được quá ạ !
Chúng tôi phấn khởi thực sự vì cuộc “Rèn cán, chỉnh quân” lúc này cực kỳ là cần thiết ! Đại tướng Võ Nguyên Giáp vô cùng kính yêu trực tiếp làm Hiệu trưởng kiêm Chính ủy ! Còn có ước muốn nào hơn ! Anh Hoàng Văn Thái cánh tay đắc lực của Bộ trưởng làm Hiệu phó: Nhất rồi! Cụ Trần Tử Bình (dạo này chúng tôi bắt đầu chuyển sang cách gọi bằng “cụ” vì trên mép anh để bộ ria đen xì, và anh nhiều tuổi nhất trong các vị tướng) với tấm lòng trìu mến, qua mấy năm làm công tác Tổng Thanh tra anh Bình đã tỏ ra cần-kiệm-liêm-chính, chí công vô tư, thực lòng yêu thương cán bộ, chiến sĩ; nghiêm nghị thẳng thắn chỉ ra cho cán bộ, kể cả cấp quân khu, cấp trung, tiểu đoàn những khuyết điểm tồn tại; đi đôi với thái độ chân tình góp ý cách khắc phục về lẽ sống làm người. Đợi cho tiếng hoan hô vỗ tay, tiếng xì xào trao đổi lắng dịu, anh Võ Nguyên Giáp lại vui vẻ nói tiếp:
- Nhưng cũng phải thẳng thắn công khai với nhau điều này: Ai cũng biết tôi lúc này rất nhiều việc, bên Thường vụ Trung ương, bên Ban Bí thư, bên Chính phủ và hàng ngày cần xem xét tình hình các mặt trận nên nhiều khi cũng phải vắng mặt. (Anh em vỗ tay thông cảm, đồng tình). Anh Thái Tổng Tham mưu trưởng cũng chỉ có thể đi đi về về. (Anh em lại vỗ tay thông cảm). Và để bù lại thì anh Trần Tử Bình, hồi này ngơi tay bên Tổng Thanh tra, sẽ dồn sức vào lớp học này. Anh Bình sẽ cùng ăn,cùng ở, cùng làm việc hàng ngày với các đồng chí… Được chưa ?
Anh em chúng tôi lại vỗ tay rào rào. Có tiếng kêu to:
- Được ạ ! Được ạ ! Hoan hô Phó Chính ủy Trần Tử Bình !
Tiếng hoan hô vỗ tay kéo dài hơn bình thường, một phần vì anh em hoan hô động viên anh Bình, cũng có phần do anh em yêu mến và chẳng mấy khi được sống chung với “cụ” Phó tổng Thanh tra có tiếng là nghiêm trang, mẫu mực. Hòa với niềm vui của anh em, anh Bình phấn khởi đứng dậy, giơ hai tay lên vỗ mạnh như một sự hưởng ứng chung vui, lại cũng như một sự hứa hẹn sẽ làm tròn nhiệm vụ cùng ăn ở, sinh hoạt, cùng làm việc
với chúng tôi.
Trưa hôm ấy ăn cơm về, mấy ông mãnh ở trung đội tôi lại tiếp tục trao đổi về cụ Bình. Họ kháo nhau thế này:
- Lớp “Rèn cán” mà cụ Bình lao vào thường trực, sát sườn với chúng ta thế này là “Hắc xì dầu” lắm đấy ! Thằng nào láng cháng hay tự do vô kỷ luật là cứ liệu hồn ! Chết với cụ ấy !
- Tại cụ làm công tác Tổng Thanh tra nên thằng nào có tật,thằng ấy giật mình ! Chứ… tao biết tính cụ… hiền khô à !
- Tao nghe người ta kể ngày xưa Trần Tử Bình “học trường phree”, nghĩa là đã học trường thầy dòng của đạo Gia tô; được giác ngộ, Trần Tử Bình đi theo Cách mạng và thành đảng viên Cộng sản. Đảng mình cũng ghê thật! Kéo được cả thầy tu đi làm cách mạng rồi đào tạo thành cấp tướng trong quân đội. Đấy dấu vết còn để lại là nét mặt và con người khắc khổ, mẫu mực…
- Ông anh tớ kể từ hàng chục năm trước, cụ đã lãnh đạo hơn năm nghìn công nhân đồn điền cao su Phú Riềng nổi dậy, chống áp bức, bóc lột. Rồi ngồi tù Côn Đảo, Hoả Lò. Ghê thật! Nom cụ thế mà kiên cường đáo để !
Ngay chiều hôm ấy trong giờ thể thao, tôi đang đi bộ dọc ngang sân tập thì có tiếng gọi:
- Văn Giang ! Văn Giang đấy phải không ?
Tôi quay sang phía tiếng gọi đã thấy “cụ” Bình xăm xăm bước lại. Cụ vui vẻ bắt tay tôi và xởi lởi hỏi :
- Tôi biết anh có tên trong danh sách khóa này, sáng nay có ý nhìn mà không thấy. Có khỏe không ? Vụ “Hát xăng-vanh-đơ”1 các anh giải quyết hậu quả tích cực lam phải không ?
Tôi mừng vì đã lâu không gặp mà anh vẫn nhớ tên và nhận ra tôi. Nhưng tôi lại cảm thấy không vui nghe anh nhắc đến câu chuyện đau thương H122 ấy.
- Thưa anh, trung đoàn M21 giải quyết rất tích cực. Về cơ bản đã tạm ổn nhưng hậu quả về tinh thần, tình cảm trong anh em phải có thời gian dài dài mới nguôi ngoai được, anh ạ. Ở bên Tổng Thanh tra chắc anh cũng được báo cáo chuyện này ?
- Chuyện H122 sau này vỡ lở to ra, anh Trần Đăng Ninh2 phải trực tiếp chỉ đạo bên công an nhảy vào cuộc. Tôi có nghe anh Trần Đăng Ninh nhắc đến và anh Phạm Ngọc Mậu3 trong báo cáo cũng nhắc đến Văn Giang góp công tích cực trong vụ này.
Tôi nhìn thẳng vào mắt anh Bình, hỏi:
- Chuyện H122 là sai lầm từ Quân khu đến hai trung đoàn B6 và M21, gây tổn thất đáng kể về cán bộ, chiến sỹ và nhân dân. Là Phó bí thư Trung đoàn ủy M21, tôi cũng có phần trách nhiệm. Sao anh lại nói “góp công sức tích cực” làm gì cho tôi thêm xấu hổ?
Anh Bình cầm tay, kéo tôi đi theo và giải thích:
- Văn Giang này, có hai chuyện khác nhau trong việc này: Một là thực dân Pháp cáo già, gian ngoan xảo quyệt, nó đánh lừa ta. Còn ta thì quá ngây thơ, ấu trĩ nên đã bị tổn thương. Qua chuyện này chúng ta cũng được bài học phải vững vàng, tỉnh táo và rất bình tĩnh xem xét mọi việc. Bài học phải trả giá quá đau đớn nhưng cũng là bài
học quý giá giúp chúng ta già dặn, trưởng thành, khôn ngoan hơn chứ! Hai là chuyện nào đi chuyện ấy. Đầu mối là mấy cậu bộ đội quân báo TD vừa dại dột, hoang tưởng lại vô trách nhiệm. Anh Trần Đăng Ninh đã chỉ rõ. Hai đơn vị B6 và M21 thì bị động chấp hành “quá hăng hái nhiệt tình đánh địch” đến thành mù quáng, tự gây tổn thất cho mình. Điều này thì anh Ninh cũng đã kết luận rồi. Anh Phạm Ngọc Mậu báo cáo trong quá trình diễn biến chính anh Mậu cũng không được tỉnh táo lắm. Văn Giang có đề xuất mấy lần “nghiên cứu lại” các đối tượng và các bản cung có nhiều mâu thuẫn nhưng anh Mậu không nghe. Cho đến hôm anh Trần Đăng Ninh về, Văn Giang lại đề xuất ý kiến lần nữa và có xin vào trại giam để gặp riêng một số đối tượng. Sau đó báo cáo lại chuyện cán bộ đánh “phạm nhân” đồng thời mớm cung gò theo ý kiến mình. Số anh em bị bắt sợ đòn đau đã báo cáo bậy thế nào cho anh Ninh nghe. Anh Mậu lại còn nói: khi vấn đề đã được kết luận là anh em mình bị oan sai, Văn Giang còn xin anh Mậu nhận bảy, tám cán bộ từ trại giam về Ban Chính trị M21, nơi Văn Giang công tác. Chuyện này rõ ràng là thái độ dũng cảm và đầy trách nhiệm của Văn Giang đối với số đồng chí mình bị oan ức.
Đáng khen lắm chứ !
Tôi ngạc nhiên không ngờ anh nắm rất chắc và đánh giá rất đúng về vấn đề Quân khu và hai trung đoàn trong vụ H122 này. Đó là những nhận xét ngắn gọn và rõ ràng mà bấy lâu tôi vẫn chờ đợi từ Quân khu. Những nhận xét của anh về tôi cũng làm tôi thấy vui.
Câu chuyện đến đây thì có đồng chí ở Hiệu bộ ra tìm. Anh vội vã bắt tay tôi rồi hấp tấp bước đi. Tôi ở lại trong tâm trạng thân thương và thoải mái.

--------------------------------------------
1 H122 là tên gián điệp “ảo” do Pháp cố tình “lộ” cho ta biết là đã cài được H122 vào nội bộ quân đội ta. Bị mắc lừa địch, ta đã nghi oan và bắt giam
một số cán bộ của đơn vị M21 và B6.
2 Trần Đăng Ninh là Uỷ viên Trung ương Đảng, rất có uy tín. Mỗi khi có việc quan trọng, anh Ninh lại được phân công vào nghiên cứu, chỉ đạo
giải quyết.
3 Phạm Ngọc Mậu, nguyên Khu phó Quân khu II, phái viên chính trị Quân khu I, sau về làm Chính ủy Trung đoàn M21.

Thứ Năm, ngày 11 tháng 12 năm 2008

Thứ Năm, ngày 30 tháng 10 năm 2008

Buổi tiếp kiến Võ Đại tướng của Thiếu sinh quân các thế hệ

Ngày 17/9/2008, tôi vinh dự có mặt trong buổi viếng thăm của đại diện Thiếu sinh quân các thế hệ tới chúc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở khu biệt thự Hồ Tây. Tiết trời đã sang thu, nắng không còn gắt, gió nhè nhẹ thổi vào từ phía hồ. Nghe nói sau cuộc phẫu thuật năm ngoái ông phải dùng khung inox để tựa khi di chuyển nhưng nay lại thấy ông chầm chậm bước vào phòng khách chỉ cần thêm người đỡ. Phu nhân Đặng Bích Hà đi bên. Thấy trong tốp đón ông có 2 cô gái đứng ở cuối hàng, ông quay ra hỏi: “Sao lại để 2 đồng chí nữ đứng phía sau?”. Ôi, Đại tướng tinh tế làm sao! Chúng tôi ùa vào phòng vây quanh chỗ ngồi của Võ Đại tướng và phu nhân. Khi đã ổn định, đại tá Nguyễn Huyên có lời: “Báo cáo anh Văn, hôm nay đại diện các thế hệ Thiếu sinh quân VN đến thăm và chúc sức khỏe anh”. Nghe đến đây, Đại tướng giơ tay lên chào. Sau khi đại tá Thái Chi (Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi thời kì chống Mỹ) lên tặng hoa, anh Lê Xuân Tùng (Thiếu sinh quân VN 1950, nguyên Bí thư Thành uỷ Hà Nội), thay mặt anh em phát biểu:

- Kính thưa Đại tướng Tổng Tư lệnh, trước hết xin phép được xưng hô “bác, cháu” cho thân tình. Thay mặt anh em Thiếu sinh quân VN các thế hệ, cháu xin có vài lời. Trước hết xin kính chúc bác thật mạnh khỏe để làm chỗ dựa tinh thần cho nhân dân cùng cán bộ, chiến sĩ cả nước! Thưa bác, ngay từ ngày 23/9/1945 ở Nam bộ đã xuất hiện những liên lạc viên, những đồng tử quân tuổi thiếu niên, rồi khi bùng nổ “Toàn quốc kháng chiến” lại xuất hiện những Vệ út của Trung đoàn Thủ đô, những Thiếu sinh quân Khu IV, Khu X... Không khác gì Ga-vơ-rốt các bạn len lỏi khắp các mặt trận lúc thì đưa thư, khi tiếp đạn hay băng bó cho thương binh; khi ngưng tiếng súng lại được thế hệ cha chú dạy chữ, dạy nết. Rồi Đảng, Bác Hồ nhận thấy việc bồi dưỡng kế cận là cần thiết. Đến ngày 10/11/1948, Đại tướng đã kí quyết định số 425/TCH cho Thiếu sinh quân các đơn vị được đi học tập trung và thống nhất gọi thế hệ ấy là Thiếu sinh quân VN. Hôm nay, các bạn Thiếu sinh quân từ miền Nam ra, từ các tỉnh về, được phép đến thăm và chúc sức khỏe bác.

Trong không khí rất ấm cúng, gần gũi giữa anh Văn - người anh cả của lực lượng vũ trang với các thế hệ Thiếu sinh quân, bà Hà quay sang ông: “Vậy anh phải có phát biểu gì cho văn văn một chút chứ?”. Ngưng một lát, Đại tướng chậm dãi nói:

- Hôm nay các đồng chí đại diện cho Thiếu sinh quân VN các thế hệ chống Pháp, chống Mỹ và thời kì đổi mới từ mọi miền Tổ quốc đến thăm và chúc sức khỏe. Tôi rất xúc động và xin chân thành cảm ơn các đồng chí! (Anh em vỗ tay hưởng ứng). Vậy Thiếu sinh quân các thế hệ đã cống hiến cho Tổ quốc thế nào?

Anh Lê Xuân Tùng tiếp lời: “Đã 60 năm trôi qua, thế hệ Thiếu sinh quân thời chống Pháp đều trưởng thành. Sau đó có nhiều đồng chí đảm nhận những cương vị trọng trách của Đảng, Nhà nước, là tướng lĩnh như Vũ Khoan, Vũ Mão, Bùi Hồng Phúc, Cao Long Hỷ..., có nhiều bạn là những nhà khoa học, giáo sư, viện sĩ hay văn nghệ sĩ nổi tiếng. Có cả những “tư sản đỏ” như Lê Minh Ngọc. Đến nay, lớp chúng cháu đã ngoài 70, có bạn đã gần 80, hầu hết đã nghỉ hưu…”. Nghe đến đây, Đại tướng ngắt lời: “Các đồng chí xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”! Còn thế hệ chống Mỹ thì thế nào?”.

- Báo cáo Đại tướng, - Chuẩn đô đốc Hải quân Lê Văn Đạo tiếp - thế hệ chống Mỹ có trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Hiện nay lứa chúng cháu còn nhiều bạn đang công tác. Trong số đó có bạn Nguyễn Thiện Nhân là Phó Thủ tướng và 1 trung tướng, 11 thiếu tướng cùng các cán bộ cao cấp trong và ngoài quân đội. Thời kì đổi mới có các trường Thiếu sinh quân của quân khu I, V, IX và TpHCM là những địa chỉ cung cấp nguồn đào tạo sĩ quan cho quân đội.

- Vậy là tốt, công tác đào tạo cán bộ vô cùng quan trọng!

Khi biết lần này về thăm có thầy trò trường Thiếu sinh quân Quân khu I do Hiệu trưởng đại tá Đàm Dũng - con trai của Trung tướng Đàm Văn Nguỵ, ông cảm thấy thật hài lòng vì con cháu đồng đội đã tiếp được bước cha anh.

Nhà báo Sĩ Ẩn thay mặt Ban Liên lạc truyền thống các trường Thiếu sinh quân VN lên gắn kỷ niệm chương cho Đại tướng và báo cáo: “Ngày 26/10 năm nay, tại TpHCM, họp mặt chính thức của Thiếu sinh quân toàn quốc các thế hệ sẽ được tổ chức. Chúng cháu nhất trí chọn ngày 10/11 là ngày truyền thống của Thiếu sinh quân VN”.

Đến phần tặng quà cho Đại tướng, ông yêu cầu cho xoay lại tấm ảnh để nhìn rõ hơn những chú bé đầu trọc, tay cầm sách, ngồi học ngay bên hào giao thông trong rừng hay cả lớp C2 trong quân phục đứng quanh thầy giáo Phạm Tuyên, thời kì ở La Bằng, Thái Nguyên năm 1950. Cảm động hơn khi Đại tá Nguyễn Xuân Thâm, cựu Thiếu sinh quân 1946, được giới thiệu sẽ tặng Đại tướng một món quà đặc biệt. Anh Thâm đứng sát bên Đại tướng, nói: “Báo cáo Đại tướng, trong tấm ảnh này là cháu và anh Phát. Chúng cháu chụp trước khi lên tầu vào miền Nam đi Nam tiến cuối năm 1945. Đã 63 năm trôi qua…”. Đại tướng nheo mắt ngắm những người trong ảnh rồi quay lại nhìn 2 “chiến sĩ già” của mình với ánh mắt đầy xúc động.

Thời gian chuyện trò bên Đại tướng không cho phép kéo dài, sợ ảnh hưởng tới sức khỏe. Chúng tôi được bố trí chụp ảnh chung với ông, sau đó là bức ảnh của anh em đại diện miền Nam. Khi nghe đại tá Nguyễn Huyên đề nghị, Đại tướng khẽ cười: “Rồi, phải ưu tiên cho thế hệ trẻ. Ưu tiên cánh Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi và thầy trò Thiếu sinh quân Quân khu I được chụp riêng với tôi”. Chúng tôi quây quần bên ông bà như những đứa con bên cha mẹ mình.

Đúng là một buổi gặp gỡ hiếm có của một vị Tổng chỉ huy với những người lính!

Thứ Ba, ngày 26 tháng 8 năm 2008

BA MƯƠI PHÚT TIẾP KIẾN ĐẠI TƯỚNG

Nhân kỷ niệm lần thứ 97 của Võ Đại tướng, xin post lại kỷ niệm với ông nhân 40 năm Trường Trỗi.

Sắp đến ngày Hội trường, Ban Liên lạc phía Nam được báo: Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận lời đến dự họp mặt ở Hà Nội. Trong lễ kỷ niệm tại thành phố Hồ Chí Minh, sáng 8 tháng 10, khi ban tổ chức thông báo tin này, cả hội trường vỗ tay rần rần. Vậy là bác vẫn dõi theo từng bước trưởng thành của anh em ta.
Sáng hôm sau, chúng tôi (Dương Minh, Hồ Bá Đạt, Dương Đức Hải, Hồng Hà, Kiến Quốc…) từ miền Nam bay ra, có mặt tại Trung tâm Báo chí quốc tế - 11 Lê Hồng Phong. Thầy trò, bạn bè bao năm mới gặp nhau. Mừng vui khôn xiết. Thật tiếc hôm đó bác Văn không đến vì được mời dự lễ hội “995 năm - Thăng Long, Hà Nội”. Vợ bác, cô Đặng Bích Hà, thay mặt đến dự. Với thầy, trò trường Trỗi, nhất là khách từ Quế Lâm sang, thì đây là một hạnh phúc! Cuối buổi lễ, chúng tôi quây quần bên cô chụp ảnh kỉ niệm. Tối hôm đó, đang dự tiệc đáp lễ của trường Y Trung, Võ Hạnh Phúc điện thoại báo tin: “ông già” đồng ý cho anh em Trỗi tiếp kiến vào sáng mai.
Gần 10 rưỡi sáng, anh em tập trung ở cổng 30 Hoàng Diệu. Hùng Thanh ghé tai tôi: “Ông thay mặt anh em phát biểu!”. “Nhưng tôi khoá 5?”. ”Ông ở Ban Liên lạc trường, lại từ miền Nam ra. Anh em nhất trí tiến cử ơng!”. Chỉ mấy câu ngắn gọn, tôi hiểu đây không chỉ là vinh dự mà còn là một mệnh lệnh vì được thay mặt toàn trường báo cáo với Đại tướng. Toàn bộ nội dung tuy đã sẵn trong đầu nhưng phải tóm gọn lại vì không cho phép nói dài, ảnh hưởng tới sức khỏe của bác.
Chúng tôi được mời vào phòng tiếp khách. Trong văn phòng Đại tướng thấy ảnh, trướng treo kín bốn bức tường. Dương Minh Đức mời đại tá Trịnh Nguyên Huân cùng dự. Hạnh Phúc chạy đi chạy lại rồi vào thông báo: “Ông già cẩn thận hỏi ai phát biểu chính. Tớ bảo Kiến Quốc, con bác Trần Tử Bình. Cụ gật đầu. Khi bác Văn và cô Hà bước vào, chúng tôi cùng đứng dậy. Châu Nguyên, Dương Minh ôm hai bó hoa ra tặng. Bác nhận hoa, cảm ơn rồi mời mọi người cùng ngồi. Tôi được xếp ngồi cạnh bác. Khi đã ổn định, tôi đứng lên xin phép bắt đầu:
- Kính thưa bác Võ Nguyên Giáp và cô Hà! Thay mặt cho thầy, trò trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, cháu xin cám ơn bác và cô đã dành cho chúng cháu chút ít thời gian để có buổi gặp mặt quý báu này! Chúng cháu - những học sinh chuyên Toán khóa 4 và 5, cùng với Võ Hạnh Phúc, thay mặt toàn trường, chúc cô và bác mạnh khỏe, sống lâu!
Thưa bác, ngày 15 tháng 10 năm nay, trường Nguyễn Văn Trỗi kỉ niệm 40 năm truyền thống. Sáng hôm qua, thầy, trò toàn trường cùng đại biểu phụ huynh học sinh, gia đình liệt sĩ, đại diện xã Mỹ Yên, Đại Từ và cả các thầy, bạn từ Quế Lâm (Trung Quốc) đã về Hà Nội, dự Ngày hội trường. Trong 5 năm, từ 1965 đến 1970, nhà trường với hơn 200 thầy, cô giáo đã đào tạo 8 khóa với gần 1.200 học sinh. Bốn mươi năm qua, được sự giáo dục, rèn luyện của quân đội, của nhà trường, có hơn 800 bạn trở thành sĩ quan quân đội, gần 1.000 bạn có trình độ đại học và trên đại học, trên 100 bạn có học vị tiến sĩ. Hiện nay, hàng trăm học sinh của nhà trường là cán bộ cao cấp trong quân đội, nhiều người làm công tác nghiên cứu trong các học viện, nhà trường, nhiều bạn đảm đương những nhiệm vụ trọng trách trong bộ máy quản lí trong và ngoài quân đội, như Thiếu tướng Nguyễn Chiến, Thứ trưởng Trần Chiến Thắng, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân, Phó ban Nội chính Trung ương Dương Thành Bắc, Cục trưởng Cục Đầu tư Bùi Vinh, Cục phó Cục Kinh tế Phùng Thế Quảng, v.v…
- Thế đồng chí quên chưa báo cáo về mình? – Bác quay sang hỏi tôi.
(Nghe bác hỏi, đứa nào trong chúng tôi đều cảm phục vị tướng già, chỉ còn vài năm nữa là tròn 100 tuổi, vậy mà sáng suốt lạ thường!).
- Báo cáo bác, cháu và nhiều bạn ở đây là học trò của thầy Trịnh Nguyên Huân ở Đại học Kỹ thuật quân sự. (Tôi chỉ tay về phía anh Huân). Sau khi ra trường, cháu được giữ lại làm giáo viên 15 năm. Đến năm 1990 thì chuyển ngành ra Hội Tin học. Hiện nay là chủ doanh nghiệp may mặc xuất khẩu ở thành phố Hồ Chí Minh với trên 1000 công nhân.
- Thế doanh số xuất khẩu bao nhiêu? Xuất đi đâu?
- Dạ, mỗi năm trên 200 tỷ và xuất sang Mỹ, EU, Nhật bản, Hàn Quốc ạ. Thưa bác, chúng cháu rất tự hào với truyền thống cách mạng của gia đình, của cha mẹ và luôn dạy cho con cháu truyền thống đó. Chúng cháu kiên quyết đi theo con đường của bác, của cô Hà và của cha mẹ đã đi.
- Như vậy là tốt! Các cháu nên nhớ dân tộc ta đã anh hùng trong bảo vệ Tổ quốc nhưng nếu để cho đất nước nghèo nàn, lạc hậu là có tội, là một nỗi nhục lớn. Bây giờ đến ai phát biểu? – Bác chỉ Châu Nguyên, con bác Trần Đăng Ninh, ngồi cạnh cô Hà - Phải ưu tiên cho con gái, Châu Nguyên có ý kiến gì nào?
Châu Nguyên đứng lên, xúc động nói:
- Kính thưa bác Văn, thưa cô Hà, gia đình cháu luôn không quên sự quan tâm và tình cảm của cô, bác dành cho… (Châu Nguyên lau nước mắt). Những năm tháng được học tập dưới mái trường Văn hoá quân đội, được các thầy, cô giáo tận tình chăm sóc, dạy dỗ, chúng cháu đã trưởng thành. Bốn mươi năm qua, đứa nào cũng giữ được bản chất tốt đẹp của cha mẹ - thẳng thắn, trung thực, không có bạn nào dính vào tham nhũng, tham ô, không có ai mua quan bán chức.
- Rất tốt! – Đại tướng ngợi khen.
Biết chúng tôi không quên công ơn của nhân dân Trung Quốc, của thành phố Quế Lâm dành cho nhà trường những năm sáu bảy, sáu tám; và hiện nay vẫn duy trì quan hệ tốt với thầy, trò trường Y Trung theo đường lối “ngoại giao nhân dân”, bác gật đầu: “Vậy các cháu biết sống nghĩa tình, có trước có sau!”. Nhân tiện cô Hà còn nhắc lại chuyện cũ: “Ngày mới tổ chức nhà trường, cũng có ý kiến cho là Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng nuông chiều con cái cán bộ. Cô có ba đứa là học sinh nhà trường nghe nói vậy cũng dao động, định xin cho con về. Qua bốn mươi năm, các cháu được đào tạo và trưởng thành đã chứng minh: quyết định ngày ấy là hoàn toàn đúng!”. Cô vừa dừng lời, tôi đứng lên: “Báo cáo bác và cô, chúng cháu rất tự hào vì trường Nguyễn Văn Trỗi có hai thầy giáo và 27 học sinh đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc. Tại sao lại nói con cái cán bộ chỉ trốn tránh nghĩa vụ, không dám ra trận? (Chợt nhớ tới phải tặng bác cuốn sách, tôi cầm lên, trao cho bác)... Thưa bác, Phan Đình Nhân đã biếu bác cuốn “Sinh ra trong khói lửa” tập II. Đó là quà của Ban Liên lạc nhà trường. Còn đây là quà của Ban biên tập biếu bác. Tác phẩm này được thầy, trò chúng cháu làm từ A đến Z”. Cụ hóm hỉnh ngắt lời:
- Vậy tập I đâu?
- Thưa bác, cháu và anh Kháng Chiến đã đến thăm và tặng bác tập I vào dịp Tết năm 2002 ạ. (Tôi chỉ vào trang bìa có hình ảnh người chiến sĩ đang đưa tay lên vành mũ chào). Đây là liệt sĩ Lê Minh Tân - con chú Lê Bưởi, đại tá, lính của bác ở Bộ Tổng tham mưu. Trước khi ra mặt trận, anh có một lời thề “Vào Đảng mới viết thư về nhà!”. Anh đã giữ đúng lời thề đó. Viết xong lá thư đầu tiên (và cũng là lá thư cuối cùng) vừa đúng sáu ngày thì anh hy sinh…
Bác lặng đi một lúc rồi quay sang viên sĩ quan cận vệ: “Lấy cho tôi cuốn “Điện Biên Phủ”, xuất bản năm 2004, để tặng nhà trường!”. Viên sĩ quan mở trang đầu, trao bút cho Đại tướng, nói:
- Dạ, xin anh viết “Thân tặng Trường…”.
Vừa nghe anh ta nói, tôi liền nheo mắt. Cái anh chàng này trẻ măng, bằng tuổi cháu mình, “mới nứt mắt” mà dám gọi cụ là “anh”? Còn bác thì thoải mái phóng bút. Chữ cụ vẫn rất đẹp. Lúc bác viết, cô Hà mời: “Các cháu cứ tự nhiên tâm sự, như họp mặt gia đình ấy mà! Ngồi nói cũng được”. Hồ Chương vẻ mặt suy tư, lúc ấy mới mạnh dạn:
- Thưa bác, thưa cô! Cháu là Hồ Chương. Chưa được trực tiếp nói chuyện với bác lần nào nhưng cháu cũng đã nhiều lần được đón bác xuống thăm Viện Kỹ thuật quân sự. Bố cháu là Xuân Thiêm, trước công tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội…
Vừa nghe đến tên bố của Hồ Chương, cô Hà nói:
- Bố cháu là nhà thơ, nhà thơ Xuân Thiêm. Cô biết. Cô sẽ gửi tặng bố cháu cuốn Hồi ký của ông Đặng Thai Mai. Nay bố cháu sống ở đâu?
- Dạ, bố cháu nghỉ hưu ở Hưng Yên ạ.
Nhận ra sự có mặt của nghệ sĩ ưu tú, đại tá Dương Minh Đức, phu nhân Đại tướng vui vẻ hỏi:
- Cô nhớ cháu là “giọng ca vàng”, có đúng không?
- Dạ, đúng ạ – Đức trả lời - nhưng đã lâu rồi. Thỉnh thoảng cháu vẫn đi biểu diễn. Hiện nay thì vừa dạy học vừa làm công tác quản lí.
- Cháu hãy báo cáo về công việc của nhà trường cho bác Văn nghe!
- Thưa bác Văn, về trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật quân đội, bác đã biết. Cháu chỉ xin báo cáo một công việc điển hình: Vừa qua, nhà trường đã xin được kinh phí của Bộ Quốc phòng, đào tạo miễn phí con em các dân tộc Tây Nguyên. Vụ “nhà nước Đề-ga” năm nào là bài học đau xót vì chúng ta không nắm được dân. Chúng cháu quan niệm muốn nắm được dân phải thông qua văn hoá, mà chính các em được quân đội đào tạo sẽ là những người nòng cốt. Cháu xin báo với bác một tin vui, nhân dịp 60 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh mùng 2 tháng 9, 120 em học sinh (trong đó có 80 em người dân tộc Tây Nguyên) đã biểu diễn thành công tại Nhà hát lớn Hà Nội vở ca kịch “Đất nước đứng lên”, phỏng theo tác phẩm cùng tên của nhà văn Nguyên Ngọc, do nhạc sĩ An Thuyên cùng tập thể giáo viên nhà trường dàn dựng.
- Tốt! Các cháu làm được nhiều việc tốt! – Đại tướng vui ra mặt - Nhưng không chỉ làm tốt, các cháu phải dũng cảm, dám đấu tranh với cái xấu, phải dám nói các chính kiến của mình trong các diễn đàn, hội nghị.
Trong khi bác đang nói, tôi nghe thấy chàng sĩ quan cận vệ ghé tai cô Hà, nói nhỏ: “Chị viết tặng sách xong để còn kết thúc. Anh phải nghỉ một lát rồi còn làm việc với anh Huyên!”. Lúc đó tôi mới hiểu: À, ra các đồng chí trong Văn phòng Đại tướng luôn gọi bác là “anh Văn” để tạo cho bác một tâm lí – “còn rất trẻ”. Cũng là một liều thuốc bổ! Đúng lúc đó Hạnh Phúc ghé tai tôi, thì thầm: “Văn Công Phước muốn phát biểu. Cậu giới thiệu đi!”. (Chơi với Hạnh Phúc từ ngày còn bé vì hai nhà sát gần nhau. Trước khi lên trường Trỗi còn cùng sơ tán lên cơ quan Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ở Vĩnh Yên, chỗ chú Kim Ngọc. Nay thấy bạn xử sự đầy kinh nghiệm, tôi rất phục). Chờ cho cô Hà viết xong, tôi đứng lên, thưa:
- Thưa bác, thưa cô, cuộc gặp gỡ cũng đã dài, sợ bác mệt. Nay bạn Văn Công Phước xin có lời kết thúc!
Phước trịnh trọng đứng lên:
- Kính thưa bác Võ Nguyên Giáp, cháu là Văn Công Phước - đại tá, bác sĩ, từng công tác ở Viện quân y 175. Nay được Bộ Y tế tin tưởng giao nhiệm vụ mới, giám đốc Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ. Ở địa bàn miền Tây Nam bộ, bà con ta có nhiều đóng góp cho cách mạng trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Chiến tranh đã kết thúc 30 năm nhưng cuộc sống của bà con còn rất nhiều thiếu thốn, nhất là vấn đề chăm sóc sức khỏe. Với chúng cháu công việc mới chỉ là bắt đầu, nhưng xin hứa với bác mang theo tinh thần của học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, chúng cháu sẽ quyết tâm xây dựng bệnh viện trở thành một trung tâm y tế mạnh ở vùng sâu vùng xa. Cuối cùng, cháu xin kính chúc bác, cô và gia đình thật mạnh khoẻ, hạnh phúc!
Phước vừa phát biểu xong, chúng tôi vỗ tay và chạy lên vây quanh bác. Bác giục: “Bác cháu ta tranh thủ chụp mấy tấm ảnh kỷ niệm để còn làm việc khác!”. Cô Hà và bác Văn như cha như mẹ ngồi giữa, còn chúng tôi như bầy con ríu rít xung quanh. Xong xuôi, từng đứa lên nắm chặt tay, chào bác. (Thật ra ai cũng muốn nấn ná kéo dài thời gian để được trò chuyện với Đại tướng, nhưng là người lính, chúng tôi hiểu thế nào là “giới hạn cho phép”…).
Buổi viếng thăm Đại tướng - lão đồng chí mà tên tuổi lẫy lừng năm châu bốn biển, thật bình dị, dân dã, ấp áp tình cha con, tình đồng chí, đồng đội. Hiếm có một buổi gặp gỡ nào cảm động hơn thế!
Vừa ra tới cửa đã thấy đại tá Nguyễn Huyên, mang theo tài liệu, bước vào. Tôi thầm nghĩ, sức làm việc của Đại tướng quả là phi thường!

Thứ Năm, ngày 21 tháng 8 năm 2008

Chiến sĩ quốc tế Đào Chính Nam

Mời bạn vào QĐND Cuối tuần 21/8/08!

Cụ Đào Chính Nam là phụ huynh của Đào Đức Thanh k7. Khi bài đã được in, Thanh báo: khi ông được Phùng Chí Kiên giao nhiệm vụ nằm lại trong đội ngũ quân Tưởng, chúng đã gắn cho ông quân hàm đại tá. Thậm chí sau này suýt phong thiếu tướng thì ông bỏ về với cách mạng.

Thứ Tư, ngày 20 tháng 8 năm 2008


Năm ngóai khi Hoàng Phước Bình k4 vào TpHCM chăm sóc con gái thay thận, Bình mời tôi về nhà. Khi ra về, hắn tặng tấm ảnh nhân ngày kỷ niệm thành lập Đội Thiếu niên tiền phong VN 15/5/1965, bà chị Bình được vinh dự thay mặt các bạn tặng Bác Hồ chân dung anh Trỗi. Đây là niềm tự hào của gia đình, nhất là ông bà già.

Nay xin giới thiệu!


Thứ Hai, ngày 18 tháng 8 năm 2008

Tuổi hai mươi được tham gia lật trang sử nước nhà

TP - Một ngày đầu tháng 8, chúng tôi đến thăm đại tá Lê Trọng Nghĩa, nguyên Ủy viên UBKN HN 1945, Cục trưởng Cục Quân báo đầu tiên năm 1950.

Đã 85 tuổi nhưng vẫn còn nhanh nhẹn và minh mẫn, ông chậm rãi kể lại những kỷ niệm của hơn 60 năm trước…

Ông Lê Trọng Nghĩa trước cửa Nhà hát Lớn TP Hà Nội
…Đầu năm 1939, khi đang học trường Gia Long (Hà Nội) thì tôi chuyển về Hải Phòng, tiếp tục học Thành chung năm thứ 3 và 4 ở trường Bonnal do ông Le Mineur, người Pháp, làm Hiệu trưởng.

Ngày mới về nghe đồn trong lớp có một bạn học rất giỏi và tài hoa. Đó chính là Nguyễn Đình Thi. Nhà trường hay tổ chức liên hoan văn nghệ, Thi thường lên sân khấu vừa đệm măng-đô-lin vừa hát. Từ đó chúng tôi luôn bên nhau.

Ở trường, trong giờ Lịch sử, các giáo sư người Pháp giảng cả về Cách mạng Dân chủ tư sản Pháp cùng tên tuổi các nhà cách mạng, cả về Công xã Ba-lê…

Việc làm này đã hình thành trong đầu óc học sinh chúng tôi những tư tưởng tự do, dân chủ. Ngoài giờ học, anh em hay tham gia sinh hoạt ngoại khóa.

Thi là hội viên Hội Hướng đạo do cụ Hoàng Đạo Thúy đứng ra tổ chức, hoạt động công khai thông qua các sinh hoạt tập thể (cắm trại, dã ngoại…), nêu cao tinh thần yêu nước.

Tháng 9/1940, Nhật nhảy vào Lạng Sơn, sau đó ném bom Hải Phòng. Dân thành phố Cảng trực tiếp chịu tai họa chiến tranh. Mỗi lần thấy giặc Nhật ngang nhiên chém giết dân ta mà nung nấu chí căm hờn.

Thanh niên, học sinh Hải Phòng ngấm ngầm tìm hiểu sách báo của Tự lực Văn đoàn, Mặt trận Bình dân, của phong trào dân chủ ở Sài Gòn, thậm chí đọc cả sách của Hít-le…

Hiểu biết dần được mở mang. Tôi và anh Thi cùng một số bạn bí mật trao tay những sách báo tiến bộ: “Đông Dương, SOS!”, “Lịch sử Đảng cộng sản Bôn-sê-vich Nga”…

Chúng tôi trăn trở: Thi xong diplome sẽ làm gì? Đi theo con đường nào, cộng sản quốc tế hay giải phóng dân tộc? Theo quốc tế cộng sản thì vấn đề dân tộc Việt sẽ ra sao? Cách mạng xong thì nhà nước được tổ chức thế nào?...

Có tin ở Bắc Sơn, Việt Bắc đang có chiến tranh du kích, rồi tin về Khởi nghĩa Nam Kỳ… Nhất là với tin tức về Mặt trận Việt Minh, chúng tôi đã khẳng định: “Chương trình Việt Minh” kết hợp được 2 vấn đề quốc gia và quốc tế, đồng thời sau khi giành chính quyền sẽ xây dựng nền dân chủ, cộng hòa.

Sau đó, hai anh em quyết định lên Hà Nội, rồi phân công: Thi vào học trường Bưởi, Nghĩa vào trường Thăng Long. Thành ủy Hà Nội suốt mấy năm liền bị khủng bố, bí thư mới về chưa nóng chỗ đã bị đánh bật ra.

Cuối cùng, chúng tôi bắt liên lạc được đ/c Xuyện - cán bộ Ban Cán sự (em trai đ/c Trần Quang Huy, học sinh Thăng Long 1935-40). Thành ủy HN mới được khôi phục lại sau 6 lần bị đàn áp”.

Hai chàng trai cùng tham gia Thanh niên cứu quốc. Ngày 6/1/1942, khi đang rải và dán truyền đơn ở cửa trường Thăng Long và Gia Long để kỷ niệm ngày thành lập Đảng, ra mắt Việt Minh thì 2 anh em bị bắt cùng các đ/c Xuyện, Thường.

Đến tháng 6/1942, Thi được thả, số còn lại bị đưa ra Tòa án Binh. Tôi bị kết án 4 năm, anh Xuyện- 5 năm, anh Thường- 5 năm và bị đưa về giam ở Hỏa Lò cùng Xứ ủy viên Trần Đăng Ninh.

Đêm 11/3/1945, lợi dụng Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương, đ/c Trần Đăng Ninh leo tường vượt ngục cùng một số anh em (trong đó có Lê Trọng Nghĩa). Đêm hôm sau, 80 tù chính trị còn lại được đ/c Trần Tử Bình tổ chức trốn ra ngoài theo đường cống ngầm.

Ông Nghĩa kể tiếp: “Hôm sau, tôi tìm về trú nhờ nhà anh Trần Quảng Kiến (bạn trong nhóm học sinh Bonnal) tại 30 Triệu Việt Vương. Vài bữa sau, Nguyễn Đình Thi bấm chuông tìm gặp: “Tôi được “tổ chức” cử tới gặp anh. Anh tranh thủ về quê thăm các cụ rồi lên nhận nhiệm vụ”.

Anh đưa cho 20 đồng bạc Đông Dương cùng một thẻ căn cước giả đi đường. Sau khi từ Quảng Yên lên, tôi gặp đ/c Lê Đức Thọ và được giao nhiệm vụ cùng anh Vũ Quý sang Ban Cán sự của Dân chủ đảng (tổ chức đảng của các nhân sĩ, trí thức yêu nước) ở phía Bắc. Còn Nguyễn Đình Thi trước đã phụ trách báo “Độc Lập” của Dân chủ đảng, nay chuyển về hoạt động ở Hội Văn hóa cứu quốc...”.

Đầu tháng 8/1945, các anh trong Trung ương và Thường vụ Xứ ủy đều lên Việt Bắc, còn lại 2 ủy viên Thường vụ: Nguyễn Khang trực Hà Nội, Trần Tử Bình trực cơ quan Xứ ủy ở Vạn Phúc, Hà Đông.

Nguyễn Đình Thi được cử đi dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào. Còn tôi cùng các anh Trần Quang Huy, Nguyễn Quyết, Nguyễn Duy Thân tham gia vào UBKN HN do anh Nguyễn Khang làm Chủ tịch, anh Trần Đình Long làm cố vấn.

Tôi còn nhớ mãi cái không khí sôi động trong ngày 19/8/1945. Quần chúng nô nức kéo về Bờ Hồ. Khắp nơi hát vang bài “Tiến quân ca” (Văn Cao) và “Diệt phát xít” (Nguyễn Đình Thi).

Sáng đó sau cuộc mít-tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn, tôi theo chân anh Khang và anh Bình vào Bắc Bộ Phủ. Quần chúng cách mạng dũng mãnh vượt rào vào chiếm Phủ Khâm sai. Đ/c Trần Tử Bình cùng các chiến sỹ tự vệ, thanh niên xung phong tiến đến phòng làm việc của Nguyễn Xuân Chữ, cầm đầu “Ủy ban chính trị”.

Anh Bình lệnh cho tự vệ giải hắn về An toàn khu của Xứ, rồi yêu cầu quay máy cho tỉnh trưởng các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh thông báo ở Hà Nội, Việt Minh đã giành chính quyền và lệnh phải mau chóng giao chính quyền cho Việt Minh, nếu không sẽ bị xử tử.

Bên ngoài, quần chúng hạ cờ quẻ ly, giương cao lá cờ đỏ sao vàng nơi trung tâm hành chính của Bắc Bộ và cả nước. Đoàn biểu tình tiếp tục chiếm toà Thị chính, Kho bạc, Sở Cảnh sát Hàng Trống…”.

Giữa lúc đó, có tin báo cánh chiếm Trại Bảo an binh (đối diện rạp Majestic, nay là rạp Tháng Tám) do đ/c Nguyễn Quyết phụ trách đang gặp khó khăn. Quân Nhật cho xe tăng bít các ngả quanh doanh trại, chĩa súng vào quần chúng. Nhưng lực lượng ta kiên quyết không rời.

Hai ông Bình, Khang cùng ông Long hội ý gấp rồi cử Lê Trọng Nghĩa dùng chiếc xe Limouzine cắm cờ đỏ sao vàng, phóng ra thương thuyết với chỉ huy Nhật.

Chúng chấp nhận rút quân nhưng yêu cầu ta phải đến gặp Tư lệnh quân đội Nhật. Chiều hôm ấy, lực lượng cách mạng chiếm Trại không đổ một giọt máu và thu một kho vũ khí với hơn 1.000 khẩu súng.

Tối hôm đó, Thường vụ Xứ ủy cử ông Nghĩa và cố vấn Trần Đình Long đi gặp Tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật ở Đông Dương Tsuchihashi. Trước khi đi, ông Long chỉ dặn: “Chớ có động chạm đến việc quân đội Nhật đã đầu hàng Đồng minh hay bom nguyên tử đã nổ ở Hyrôsima hay Nagasaky”.

Cuộc gặp mặt mạo hiểm bắt đầu từ 8 giờ. Hai ông được dẫn vào phòng khánh tiết. Thấy trên tường treo lá cờ trắng mà ở giữa là mặt trời đỏ; tướng tá Nhật đứng xung quanh mặt lạnh tanh, súng gươm giắt đầy mình.

Hai ông chủ động chào hỏi rồi tự giới thiệu là đại diện của “cánh dân chúng nổi dậy chiếm Phủ Khâm sai sáng nay”. Như đã bàn bạc, ông Nghĩa lên tiếng: “Nghe tin Nhật Hoàng đã chấp thuận cho các ông rút quân về nước?”.

Vừa nghe 2 chữ “Nhật Hoàng”, nét mặt của đám tướng tá thay đổi hẳn. Sau đó, các nhà chức trách cao cấp Nhật bản xác định thái độ không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt, mặc nhiên thừa nhận nhà chức trách đương quyền tại Bắc Bộ Phủ. Ngay sau đó, Đại sứ Tsukamoto điện báo về Tokyo…

Như vậy trong ngày 19/8 đã kết thúc nhanh chóng việc chiếm các cơ quan đầu não chính trị, quân sự của chính quyền Khâm sai ở Thủ đô mà không có sự chống đối, xung đột nào, không phải nổ một phát súng, không phải mất một giọt máu; đồng thời đã ngăn chặn được cuộc can thiệp của đội quân Nhật, có nguy cơ dẫn đến xung đột vũ trang hoặc đàn áp quần chúng. Và, thắng lợi ở Hà Nội lập tức kéo theo sự rúng động làm tan vỡ hệ thống chính quyền ngụy ở Bắc Bộ.

“Và ngay trong đêm ấy, - ông Nghĩa tiếp lời - khi từ Đồn Thủy trở về, tôi thấy Thường vụ Xứ ủy cùng UBKN HN vẫn đang chong đèn họp. Và sáng hôm sau, ngay tại vườn hoa Con Cóc trước Bắc Bộ Phủ, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời của Bắc Bộ và Hà Nội chính thức ra mắt quốc dân đồng bào.

Có gì tự hào hơn khi ở độ tuổi hai mươi, chúng tôi đã được cùng đồng chí, đồng bào lật cuốn sử nước nhà sang một trang mới!”.

Kiến Quốc
Copyright (C) 2005 Tien Phong Online

Thứ Tư, ngày 06 tháng 8 năm 2008

Chuẩn bị kỷ niệm 60 năm Thiếu sinh quân VN

Ngày 10/11/1948, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp kí quyết định thống nhất các trường Thiếu sinh quân (TSQ) toàn quốc. Và cái ngày trọng đại ấy sắp tròn 60 năm!
Nhóm các cựu TSQ thời kì chống Pháp, chống Mỹ (trong đó có trường ta) và các nhà trường TSQ các quân khu, quân chủng... đã nhóm họp. Ban Liên lạc truyền thống các trường TSQ VN khu vực Tp HCM được thành lập trong tổ chức Hội CCB VN TpHCM.
Ý tưởng tổ chức kỷ niệm, hội thảo về công tác giáo dục đào tạo cán bộ cho LLVT thông qua các nhà trường TSQ vào dịp này trong phạm vi toàn quốc được đưa ra nhưng khó thực hiện. Những người đứng đầu (nhất là TCCT) không thật mặn mà(!). Vì vậy sẽ tổ chức trước mắt tại khu vực phía Nam, sau đó vào đầu năm 2009 sẽ tổ chức ở phía Bắc (lấy cơ sở là trường TSQ Quân khu I).
Nay thông báo cho anh em!
Tất nhiên, anh em phía Nam sẽ gánh trách nhiệm thay mặt trường ta cùng tham gia.
(Kính chuyển Ban Liên lạc phía Nam và Dương Minh).

Thứ Bảy, ngày 26 tháng 7 năm 2008

Thông tin về Tướng quân Phùng Chí Kiên

Mời các bạn đọc thông tin này!